PDA

View Full Version : Toàn Cầu Hóa và Những Mặt Trái -Joseph E. Stiglitz



Deathshine
01-07-08, 02:59 PM
TOÀN CẦU HÓA VÀ NHỮNG MẶT TRÁI



http://www.thanglong.com.vn/data/88248.jpg


- Tác giả: Joseph E. Stiglitz
- Khổ sách: 14.5x20.5cm
- Số trang: 366
- Giá bán : 64.000 VND
- Năm xuất bản: 04/2008


MỤC LỤC


Những lời khen ngợi dành cho cuốn sách (http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Sach-Hay/Toan_cau_hoa_va_nhung_mat_trai/#Nhung-loi-khen-ngoi)
Lời nói đầu
Lời cảm ơn
Chương 1: Lời hứa của các tổ chức toàn cầu
Chương 2: Những lời hứa bị phá bỏ
Chương 3: Quyền tự do lựa chọn?
Chương 4: Cuộc khủng hoảng Đông Á
Chương 5: Ai "đánh mất" nước Nga?
Chương 6 Luật lệ thương mại bất công và những thủ đoạn khác
Chương 7 Những don đường tốt hơn đi tới kinh tế thị trường
Chương 8: Lịch trình khác của IMF
Chương 9: Con đường phía trước


Giới thiệu sách
Đã từ lâu, người ta quen với những cuộc tranh cãi bất tận về toàn cầu hóa, những cuộc biểu tình chống toàn cầu hóa cũng xảy ra "như cơm bữa" và trở thành nỗi lo lắng thường trực mỗi khi nhóm G7, WTO...vv... tổ chức hội họp.
Đơn giản bởi toàn cầu hóa mang trong nó quá nhiều những mặt tốt xấu. Người ta vừa đón nhận nó như một quá trình tất yếu đang diễn ra mạnh mẽ, toàn diện, cùng lúc đó không ít nơi lại phản ứng, chống đối nó như một thứ "ác quỷ xấu xa".


Toàn cầu hóa và những mặt trái của nhà kinh tế học Joseph Stiglitz cũng góp một cái nhìn rất nghiêm khắc về quá trình này, đúng như những gì ông bộc bạch ở phần Lời nói đầu:


Tôi viết cuốn sách này từ khi tôi còn đang làm việc ở Ngân hàng Thế giới và đã trực tiếp chứng kiến những tác động tàn phá của toàn cầu hóa lên các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước nghèo trong số này.


Tôi tin rằng toàn cầu hóa - sự dỡ bỏ các hàng rào dẫn đến tự do thương mại và sự hội nhập mạnh mẽ hơn của các nền kinh tế quốc gia -có thể là một sức mạnh thúc đẩy có khả năng nâng cao mức sống của mọi người trên thế giới, đặc biệt là người nghèo.




Joseph E. Stiglitz, tác giả cuốn sách, một nhà kinh tế của thời hiện đại, đoạt giải Nobel kinh tế năm 2001, đã phát triển một nhánh kinh tế học mà sau này gọi là kinh tế học thông tin. Ông cũng có nhiều công trình nghiên cứu về các chủ đề kinh tế ứng dụng, bao gồm kinh tế học khu vực công, kinh tế phát triển và chính sách tiền tệ.
Hơn thế nữa, ông từng có thời trực tiếp tham gia công việc hoạch định chính sách toàn cầu ở cương vị Phó chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB), và chính sách của một siêu cường kinh tế ở cương vị Chủ tịch Hội đồng cố vấn kinh tế của Tổng thống Bill Clinton. Cuốn sách này dựa trên nền tảng học thuật vững chắc cũng như các kinh nghiệm thực tiễn quý báu đó.
Ông vẫn tin rằng toàn cầu hóa có thể là một sức mạnh thúc đẩy nâng cao mức sống của mọi người trên thế giới, đặc biệt là người nghèo, nhưng ông cũng cho rằng để được như thế thì cách thức tiến hành toàn cầu hóa như hiện nay “cần phải được suy xét lại một cách triệt để”. Bởi vì cách thức hiện nay thường chỉ phù hợp với lợi ích của các nước đã phát triển và các tầng lớp có quyền lực, khiến cho hố ngăn cách giàu nghèo ngày càng rộng trên phạm vi toàn cầu.
“Những người chỉ trích toàn cầu hóa buộc tội các nước phương Tây là đạo đức giả và họ hoàn toàn đúng. Các nước phương Tây đã ép buộc nhiều nước nghèo xóa bỏ hàng rào thương mại, nhưng lại giữ lại hàng rào thương mại của chính họ.” Các chính sách như duy trì chế độ hạn ngạch đối với hàng hóa nhập khẩu từ các nước đang phát triển, hay tiếp tục trợ cấp nông nghiệp khiến cho hàng nông sản của các nước đang phát triển khó cạnh tranh, dẫn đến hậu quả là “nhiều nước nghèo nhất thế giới thực ra còn bị làm cho nghèo hơn”.

*** Sách chưa có ebook U à. Nếu U muốn có thể vô Thư viện Khoa học Tổng hợp đọc nó. Nó đang được bày triễn lãm tại tầng trệt đó. Mai mốt hết triễn lãm thì vô trang web thư viên kiếm là ra thông tin nó đang ở kho nào và U có thể liên hệ thủ thư để mượn đọc.

huynhanhkiet
01-07-08, 05:44 PM
Sách có vẻ hấp dẫn đây, phải đi lùng mới được.

khanhbmt
01-07-08, 11:55 PM
Sách có vẻ hấp dẫn đây, phải đi lùng mới được.
Không cần đến nỗi phải lùng đâu anh, nhà sách nào cũng có. Đọc xong quyển này mới thấy bộ mặt thật của IMF và WB, phục vụ lợi ích cho "kẻ mà ai cũng biết là ai đó". Với những chính sách sai lầm, IMF cũng góp phần trong cuộc khủng hoảng Đông Á 1997 khoc

Deathshine
03-07-08, 05:30 PM
Không cần đến nỗi phải lùng đâu anh, nhà sách nào cũng có. Đọc xong quyển này mới thấy bộ mặt thật của IMF và WB, phục vụ lợi ích cho "kẻ mà ai cũng biết là ai đó". Với những chính sách sai lầm, IMF cũng góp phần trong cuộc khủng hoảng Đông Á 1997 khoc
Ờ ! IMF chỉ làm tốt trong việc xóa đói giảm nghèo thôi còn lại làm sai mà không chịu nhận tội, có khi sai chỉ vì một lời đồn làm cho thằng Hàn Quốc điêu đứng.
Thật may mắn là Đông Á không nghe theo IMF nếu không chắc chết không có đất chôn luôn.
Ảnh hưởng thì lớn như thế nhưng chỉ nhìn nhận các vấn đề 1 cách phiến diện làm cho bao nhiêu thằng chết đói.

VanAnh78
08-09-08, 04:29 PM
http://forum.wgbh.org/wgbh/forum.php?lecture_id=1324

Bạn có thể nghe chính Stiglitz nói về quyển sách này (tiếng Anh).

bocauxanh
13-09-08, 12:20 PM
TOÀN CẦU HÓA VÀ NHỮNG MẶT TRÁI




http://www.thanglong.com.vn/data/88248.jpg


- Tác giả: Joseph E. Stiglitz
- Khổ sách: 14.5x20.5cm
- Số trang: 366
- Giá bán : 64.000 VND
- Năm xuất bản: 04/2008

MỤC LỤC

Những lời khen ngợi dành cho cuốn sách (http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Sach-Hay/Toan_cau_hoa_va_nhung_mat_trai/#Nhung-loi-khen-ngoi)
Lời nói đầu
Lời cảm ơn
Chương 1: Lời hứa của các tổ chức toàn cầu
Chương 2: Những lời hứa bị phá bỏ
Chương 3: Quyền tự do lựa chọn?
Chương 4: Cuộc khủng hoảng Đông Á
Chương 5: Ai "đánh mất" nước Nga?
Chương 6 Luật lệ thương mại bất công và những thủ đoạn khác
Chương 7 Những don đường tốt hơn đi tới kinh tế thị trường
Chương 8: Lịch trình khác của IMF
Chương 9: Con đường phía trước

Giới thiệu sách
Đã từ lâu, người ta quen với những cuộc tranh cãi bất tận về toàn cầu hóa, những cuộc biểu tình chống toàn cầu hóa cũng xảy ra "như cơm bữa" và trở thành nỗi lo lắng thường trực mỗi khi nhóm G7, WTO...vv... tổ chức hội họp.
Đơn giản bởi toàn cầu hóa mang trong nó quá nhiều những mặt tốt xấu. Người ta vừa đón nhận nó như một quá trình tất yếu đang diễn ra mạnh mẽ, toàn diện, cùng lúc đó không ít nơi lại phản ứng, chống đối nó như một thứ "ác quỷ xấu xa".

Toàn cầu hóa và những mặt trái của nhà kinh tế học Joseph Stiglitz cũng góp một cái nhìn rất nghiêm khắc về quá trình này, đúng như những gì ông bộc bạch ở phần Lời nói đầu:

Tôi viết cuốn sách này từ khi tôi còn đang làm việc ở Ngân hàng Thế giới và đã trực tiếp chứng kiến những tác động tàn phá của toàn cầu hóa lên các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước nghèo trong số này.

Tôi tin rằng toàn cầu hóa - sự dỡ bỏ các hàng rào dẫn đến tự do thương mại và sự hội nhập mạnh mẽ hơn của các nền kinh tế quốc gia -có thể là một sức mạnh thúc đẩy có khả năng nâng cao mức sống của mọi người trên thế giới, đặc biệt là người nghèo.




Joseph E. Stiglitz, tác giả cuốn sách, một nhà kinh tế của thời hiện đại, đoạt giải Nobel kinh tế năm 2001, đã phát triển một nhánh kinh tế học mà sau này gọi là kinh tế học thông tin. Ông cũng có nhiều công trình nghiên cứu về các chủ đề kinh tế ứng dụng, bao gồm kinh tế học khu vực công, kinh tế phát triển và chính sách tiền tệ.
Hơn thế nữa, ông từng có thời trực tiếp tham gia công việc hoạch định chính sách toàn cầu ở cương vị Phó chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB), và chính sách của một siêu cường kinh tế ở cương vị Chủ tịch Hội đồng cố vấn kinh tế của Tổng thống Bill Clinton. Cuốn sách này dựa trên nền tảng học thuật vững chắc cũng như các kinh nghiệm thực tiễn quý báu đó.
Ông vẫn tin rằng toàn cầu hóa có thể là một sức mạnh thúc đẩy nâng cao mức sống của mọi người trên thế giới, đặc biệt là người nghèo, nhưng ông cũng cho rằng để được như thế thì cách thức tiến hành toàn cầu hóa như hiện nay “cần phải được suy xét lại một cách triệt để”. Bởi vì cách thức hiện nay thường chỉ phù hợp với lợi ích của các nước đã phát triển và các tầng lớp có quyền lực, khiến cho hố ngăn cách giàu nghèo ngày càng rộng trên phạm vi toàn cầu.
“Những người chỉ trích toàn cầu hóa buộc tội các nước phương Tây là đạo đức giả và họ hoàn toàn đúng. Các nước phương Tây đã ép buộc nhiều nước nghèo xóa bỏ hàng rào thương mại, nhưng lại giữ lại hàng rào thương mại của chính họ.” Các chính sách như duy trì chế độ hạn ngạch đối với hàng hóa nhập khẩu từ các nước đang phát triển, hay tiếp tục trợ cấp nông nghiệp khiến cho hàng nông sản của các nước đang phát triển khó cạnh tranh, dẫn đến hậu quả là “nhiều nước nghèo nhất thế giới thực ra còn bị làm cho nghèo hơn”.

*** Sách chưa có ebook U à. Nếu U muốn có thể vô Thư viện Khoa học Tổng hợp đọc nó. Nó đang được bày triễn lãm tại tầng trệt đó. Mai mốt hết triễn lãm thì vô trang web thư viên kiếm là ra thông tin nó đang ở kho nào và U có thể liên hệ thủ thư để mượn đọc.

Sách hấp dẫn quá, không biết giá cả có đắt không nữa...., có ai có sách về "Kinh Tế Công Cộng" của Joseph E. Stiglitz cho Bocauxanh mượn pto với.

khanhbmt
13-09-08, 12:28 PM
Sách hấp dẫn quá, không biết giá cả có đắt không nữa...., có ai có sách về "Kinh Tế Công Cộng" của Joseph E. Stiglitz cho Bocauxanh mượn pto với.
46K thôi, nhà sách nào cũng có.

nguyentranlam
20-09-08, 09:03 AM
Thấy anh chị em bàn về cuốn này nhưng tui kiếm không có, chỉ có cuốn này cũng của Joseph, đóng góp với anh em:
http://rapidshare.com/files/34942966/stiglitz
Cheers

VanAnh78
22-09-08, 11:28 PM
"Making Globalization Work" của Stiglitz có thể nói là còn hay hơn quyển sách trước.

nangchieu
25-09-08, 06:52 PM
Đọc Stiglitz




"Khi nhận báo cáo hàng năm của IMF về nước mình, bạn nên trả lời

'Xin cám ơn quý vị rất nhiều,' rồi vứt nó ngay vào sọt rác"



J. E. Stiglitz


The Nation, 10 tháng 6, 2002

Khoảng chục năm gần đây, có lẽ Joseph Stiglitz là nhà kinh tế gây nhiều sôi nổi dư luận nhất, đặc biệt là trong giới kinh tế tài chính và phát triển quốc tế. Với quá khứ hoàn toàn "chính thống tân cổ điển" (được đào tạo rồi trở thành giáo sư thực thụ trẻ tuổi nhất ở MIT, sau đó sang Yale, Oxford, Stanford, và Columbia hiện nay), với con đường thăng tiến công danh ít người bằng (chủ tịch Hội Đồng Cố Vấn Kinh Tế cho Tổng Thống Mỹ, phó chủ tịch Ngân Hàng Thế Giới, rồi giải Nobel 2001[1] (http://www.viet-studies.info/THDung/DocStiglitz.htm#_edn1)), Stiglitz -- trong con mắt của nhiều đồng sự -- đã trở thành một người "nghịch bướng", "bội phản", và những tên khác không tiện nói ra đây, đồng thời lại là thần tượng của đông đảo đã chưa từng nghe tên ông lúc trước. Đây là một hành trình trí thức đầy kịch tính, đề tài màu mỡ cho những người viết tiểu sử sau này.
Trong quyển sách vừa xuất bàn "Toàn Cầu Hóa và Những Người Bất Đồng" [2] (http://www.viet-studies.info/THDung/DocStiglitz.htm#_edn2) Stiglitz đã tập họp những nhận định về một số biến chuyển kinh tế thế giới trong thời kỳ ông làm phó chủ tịch kiêm kinh tế trưởng Ngân Hàng Thế Giới từ 1997 đến 2000. Hầu hết những nhận xét và đề nghị trong quyển này không là mới (đa số là khai triển những điều Stiglitz đã viết trong một bài khá nổi tiếng trên tuần báo The New Republic năm 2000), và được nhiều nhà kinh tế khác chia sẻ (đáng kể là Dani Rodrik ở Harvard, Robert Wade ở London School of Economics). Song đây là một quyển sách quan trọng, mang dấu ấn một tác giả vinh danh Nobel, chắc chắn sẽ là cái mốc lớn trong những bàn cãi về cơ cấu kinh tế tài chính quốc tế từ rày về sau.


I.

Quê quán ở thành phố thép Gary (bang Indiana) nhiều thất nghiệp, cha là người bán bảo hiểm, mẹ là giáo viên, từ thuở niên thiếu Stiglitz đã quan tâm đến tình trạng công nhân thất nghiệp, và sự khác biệt giữa nhu cầu của lao động (việc làm, lương bổng) và quyền lợi người có vốn (lợi nhuận, lạm phát). Tên tuổi Stiglitz bắt đầu được nhiều người biết qua một bài nghiên cứu (năm 1969) trong tạp chí chuyên ngành hàng đầu Econometrica, trong đó ông mở rộng mô hình kinh tế tân cổ điển (rất phổ thông lúc ấy), phân tích tác dụng qua lại giữa tốc độ tăng trưỡng và phân bố thu nhập giữa tư bản và lao động. Sau khi tốt nghiệp MIT, Stiglitz sang Kenya làm việc nhiều năm, và rõ ràng là những ấn tượng về châu Phi đã ảnh huởng sâu đậm sự nghiệp trí thức của ông từ đó đến nay.[3] (http://www.viet-studies.info/THDung/DocStiglitz.htm#_edn3)
Cốt lõi lý thuyết kinh tế của Stiglitz là triển khai những phân tích về hiện tương "thông tin không đối xứng" theo đó, trong các giao dịch kinh tế giữa hai phe, gần như bao giờ một phe (ví dụ người bán) cũng biết nhiều hơn phe kia (ví dụ người mua) về những đặc tính của giao dịch đó (chẳng hạn như chất lượng món hàng). Nhân xét này thực sự bắt nguồn từ quan sát của Stiglitz về cơ chế "tá điền" làm thuê ở Kenya (và đúng ra là mọi nơi) Đại để là, người chủ điền không bao giờ có thể quan sát hành động của người tá điền từng phút, từng giờ. Nói cách khác, người tá điền luôn luôn biết rõ về hoạt động của chính mình, cũng như công việc đồng áng, hơn người đứng thuê anh ta. Trong hoàn cảnh "thông tin không đối xứng này", tất cả những lý thuyết tân cổ điển về luơng lao đông cần đựợc xét lại. Và chỉ một phút suy nghĩ sẽ thấy ngay rằng hiện tương này không chỉ có giữa chủ điền và tá điền ở Kenya, nhưng hầu như trong mọi giao dịch kinh tế khác. Đóng góp to lớn nhất của Stigtitz là áp dụng những phương pháp toán tinh xảo trong tiếp cận tân cổ điển để phân tích trường hơp này và những liên hệ khác, từ bảo hiểm, ngân hàng, cho đến công tác quản lý xí nghiệp....
Không kém quan trọng (dù ít người nhận thấy điều này trong Stiglitz), những năm ở Kenya đã cho Stiglitz thấy vai trò của thể chế như một giải pháp kinh tế cho tình trạng thông tin khiếm hụt và không đối xứng. Chẳng hạn như, vì sợ dèm pha của láng giềng (tức là thể chế xã hội), người tá điền phải siêng năng làm việc, dù chủ điền không có mặt để quan sát. Đồng thời, sự cần thiết của thông tin trong mọi hoạt động kinh tế chính nó là lý do căn bản cho sự thất bại của các nền kinh tế kế hoạch hoá chỉ huy Song, cũng chính vì sự thông tin bất toàn, nền kinh tế thị trường thuần tuý sẽ không phân bố tài nguyên toàn hảo -- thậm chí nhiều mảnh thị trường có thể không đủ điều kiện xuất hiện.
Và do đó, với nhiều dè dặt, Stiglitz nhìn nhận vai trò của (1) nhà nuớc và (2) những thể chế cổ truyền (gia đình) là có ích cho hoạt động kinh tế vì nó cung cấp thông tin (ông đánh giá cao những thể chế "ngoại thị trường" hữu ích trong hoàn cảnh thông tin thiếu thốn và không đối xứng). Chính điểm thứ hai này là điều khác biệt căn bản giữa những người (chỉ trích kinh tế tân cổ điển từ bên trong, với ý muốn bổ sung nó) như Stiglitz và những người cánh tả hay chống đối buông lỏng thị trường vì lý do bốc lột giai cấp hay tương tự.
Nói cách khác, sự thiếu tin tưởng của Stiglitz vào lập luận thị trường dung tục (theo đó thị truờng hoàn toàn tự do sẽ là liều thuốc vạn năng cho mọi vấn đề) là căn cứ vào những sự suy nghĩ và phân tích vượt trên và sâu hơn những người khác, không phải (như mác xít) dựa trên sự bài bác (gần như) trọn gói căn bản kinh tế học thị truờng. Chính điều này làm lý luận Stiglitz khó bị quật ngã bằng những đòn phân tích tân cổ điển sơ đẳng, trình độ đai học năm thứ nhất.


II.

Sách (bản tiếng Anh) gồm 9 chương, 252 trang (không kể chú thích). Từ trang đầu đến trang cuối, Stiglitz cẩn thận lập đi lập lại: trên ngưyên tắc, tiến trình toàn cầu hoá là tốt. Có gì hơn tự do buôn bán, tự do đầu tư, tự do đi lại, tự do du nhập tri thức, công nghệ? Hơn nữa, kinh nghiệm cho thấy, dù chưa hoàn toàn, toàn cầu hoá đã nâng cao chất lượng đời sống của hàng trăm triệu người, nhất là ở các quốc gia Đông Á và Trung Quốc.
Song, vẫn trên thực tế, tự do thương mại, tự do đầu tư, và tư hữu hoá như kiểu hiện nay cũng đã làm cho hàng trăm triệu người (nhất là ở các quốc gia đang chậm tiến) bị nghèo nàn khốn khổ, vì thất nghiệp, vì phá sản, vì xã hội bất ổn, vì môi trường bị hũy hoại. Nhìn cách khác, phần lớn tiến trình toàn cầu hoá hiện nay là nhằm phục vụ quyền lợi các nước giàu -- hay nói đúng hơn, một thiểu số (giới tài chính, những công ty lớn) trong các nước ấy.
Theo Stiglitz, chính "market fundamentalism" (chủ nghĩa thị trường cực đoan như đã nói ở trên) đã trách nhiệm phần lớn, nếu không là đầu mối, những hậu quả bi đát ấy. Ông chỉ trích sự cứng nhắc của cái gọi là "đồng thuận Washington".[4] (http://www.viet-studies.info/THDung/DocStiglitz.htm#_edn4) Stiglitz lần lược phân tích những vấn đề căn bản như (a) tư hữu hoá, (b) tự do hoá kinh tế, (c) vai trò của đầu tư nước ngoài, (d) lớp lang và nhịp điệu (sequencng and pacing) các cải cách kinh tế (e) kinh tế rỉ xuống (trickle down economics) và vạch ra rằng, xét đến tận gốc thì những chính sách của IMF[5] (http://www.viet-studies.info/THDung/DocStiglitz.htm#_edn5), WTO[6] (http://www.viet-studies.info/THDung/DocStiglitz.htm#_edn6) (và "đồng thuận Washington" nói chung) là thiếu tinh tế, quá đơn giản, thô lậu. Nổi bật, tổ chức nhận gần như trọn đầu dùi của Stiglitz là IMF, đến độ, như một nhà phê bình đã viết, tựa quyển sách đáng lẽ phải là "IMF và Những Sự Bất Mãn Của Tôi".
Theo Stiglitz, tất cả đều là lỗi của IMF, nhất là khi so sánh nó với Ngân Hàng Thế Giới mà ông là phó chủ tịch kiêm kinh tế trưởng. IMF thiếu dân chủ IMF kiêu căng. IMF hẹp hòi, vụng về và lạng quạng. IMF thật sự chỉ phục vụ cho quyền lợi giới tài chính ở các nước giàu.
Cáo trạng IMF của Stiglitz tập trung ở ba điểm chính. Một là, tác phong kiêu căng ngạo man, hầu như tân thực dân, của các quan chức IMF (làm việc giấu giếm, không đặt chuyên gia thường trú ở nước sở tại, ra tối hâu thư cho các quốc gia gặp khó khăn). Hai là, những báo cáo và đề nghị của IMF thường dựa vào kiến thức lý thuyết kinh tế thiếu sót và sai lầm. Ba là, mục đích không thích hợp vói hoàn cảnh địa phưong, chẳng hạn như đã đem kinh nghiệm (đúng phần nào) ở Mỹ La Tinh áp dụng mọi nơi khác.
Stiglitz xác nhận là những chỉ trích IMF về chính sách "điều chỉnh cơ cấu" (structural adjustment) của tổ chức này đã gây nghèo khổ tràn lan, rằng tư do thương mại chỉ có lợi cho nước giàu, rằng tư hữu hoá đã gây thảm hoạ ở nhiều nước, không phải là không đúng. Dưới ngòi bút của Stiglitz, IMF là một tổ chức vụng về, mà lại khắc khe kềm chế các quốc gia thành viên -- nhất là các thành viên kém phát triển. Cụ thể, IMF khăng khăng chủ trương "thắc lưng buộc bụng" (thăng bằng ngân sách, tăng lãi suất ...). Tin tưởng vào sự toàn thiện độc tôn của "thị trường", IMF nhất quyết ôm giữ mô hình này như một kẻ cuồng tín. Chưa hết, đòn đo ván của Stiglitz là IMF chỉ nghĩ đến quyền lợi của giới tài chính và ngân hàng, không đến phúc lợi của ai khác ngay trong các nước phát triển, đừng nói chi đến các nước nghèo.
Hơn nửa quyển sách là hai chương. Chương 4 nói về kinh nghiệm trong khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997, và chương 5 phân tích trường hợp của Nga
Theo Stiglitz thì câu chuyện Đông Á khá dễ hiểu: (a) Các quốc gia trong khu vực đã phát triển vượt bực trong hai thập kỷ trước đó, chủ yếu là nhờ sự hướng dẫn khôn ngoan của nhà nước, trái với chính sách IMF (và do đó, cho đến 1997, IMF đã làm như không biết sự thành công này), (b) nguyên nhân khủng hoảng là vì tự do hoá quá sớm thị trường vốn, (c) can thiệp "cấp cứu" của IMF càng làm khủng hoảng trầm trọng thêm, (d) những nước không nghe lời IMF thì phục hồi sớm hơn những nước theo IMF.
Về trường hơp Nga, Stiglitz cho rằng nước này đã thất bại vì nghe lời IMF theo "liệu pháp sốc" (shock therapy): buông thả giá cả quá nhanh và tư hữu hoá quá vội vàng (nhất là khi so sánh với Trung Quốc là nước theo "biện pháp từ từ" (gradualism)). Theo Stiglitz, đáng lẽ Nga phải chuẩn bị môi trường pháp lý và chính trị trước khi thả lỏng giá cả và tư hữu hoá.
Chương cuối cùng ("Con đuờng truớc mắt") là có nhiều phân tích khách quan và đề nghị chính sách tích cực nhất. Ông khẳng định tán dương toàn cầu hoá nói chung, chỉ chống đối cách thức toàn cầu hoá khư khư bám vào lý thuyết căn bản thị trường. Stiglitz cũng cực lực phê phán chính sách đầy tính đạo đức giả của các nước tư bản giàu: trong lúc hô hào thế giới mở cửa thị trường thì chính họ khép cửa thị trường, trong lúc hối thúc các quốc gia chuyển tiếp nhanh chóng tư hữu hoá thì các nước tư bản -- hơn ai hết -- còn đầy quốc doanh vì đã từng thất bại ê chề trong tư hữu hoá. Stiglitz đưa ra những đề nghị: cải thiện thể chế kinh tế tài chính toàn cầu, nhà nuớc cần can thiệp nhiều hơn để loại trừ những thất bại thị trường và đảm bảo công bằng xã hội. Không khác gì các đề nghị của những người xuống đường ở Seattle, ở Genoa!


III.

Ưu thế của Stiglitz trong tác phẩm này là ở sự hiểu biết lý thuyết kinh tế tinh sâu và cao cường hơn chính những người chỉ trích ông (về sự thất bại của thị trường, về quỷ đạo của tiến trình thích ứng (dynamic adjustment path), v..v..) Ông phê phán tiến trình toàn cầu hoá hiện nay không phải từ quan điểm của cánh tả ("bốc lột giai cấp", chủ nghĩa thực dân mới, hay bảo vệ môi trường) nhưng trên lý tưởng "dân chủ" mà phương Tây hay tự hào, và tính đạo đức giả trong chính sách của IMF. Chỉ trích của Stiglitz "đau" vì nó vạch rõ những chính sách của IMF tối hậu chỉ là để phục vụ quyền lơi kinh tế một thiểu số, dù có được ngụy trang bằng lý thuyết kinh tế màu mè. Và tệ hơn nữa, IMF đã theo những muc tiêu đó trong sự thiếu hiểu biết và lầm lẫn lý thuyết..
Stiglitz không là người đầu tiên chỉ trích IMF là thiếu dân chủ và có hại cho người nghèo. Nhưng trước đây thì người chỉ trích như thế thường bị bác bỏ là không biết gì về lý thuyết kinh tế. Với sự xuất hiện của Stiglitz trong hàng ngũ này (cùng với Dani Rodrik ở Harvard, Robert Wade của London School of Economics, và nhiều kinh tế gia khá nổi tiếng khác) tiếng nói những người chỉ trích IMF được nặng ký hơn. Song, có người sẽ hỏi: chẵng lẽ đến khi làm cho Ngân Hàng Thế Giới thì Stiglitz mới phát giác rằng chính phủ các nước tư bản đã đặt quyền lợi thương mại trước quyền lợi của đông đảo dân chúng, của môi trường sinh thái?
Tuy nhiên, những dẫn chứng của Stiglitz về kinh nghiệm thực tế có nhiều chỗ không ổn. Qua Stiglitz, người đọc có ấn tượng là thế giới sẽ tốt đẹp hơn nếu không có, hoặc không nghe lời IMF. Đây là một khẳng định không thể kiểm chứng. Nhìn lại quá khứ thì thị lực bao giờ cũng là 20/20. Chẳng hạn như Trung Quốc khác với Nga lúc bắt đầu thời kỳ chyển tiếp. Một nuớc là nông nghiệp, chậm tiến, một nước là công nghiệp, tương đối hiện đai. Tính khả thi cũng như sự thành công của từng chính sách hiển nhiên là tuỳ vào điều kiện ban đầu. Ai có thể nói chắc rằng Nga không thành công như Trung Quốc chỉ vì Nga theo liệu pháp sốc?
Chính Stiglitz cũng nhìn nhận rằng khó so sánh nước này với nước khác, chẳng hạn như giữa Mỹ La Tinh và Đông Á. Song ông không nói đến những nước theo biện pháp "từ từ" nhưng thất bại (như Rumania, Ukraine, Belarius ..) và những nước theo liệu pháp sốc nhưng thành công (như Ba lan, Hungary, Estonia).
Thực tế kinh nghiệm các nước chẳng trắng đen như trong bức tranh Stiglitz. Không khó đơn cử những con số cho thấy Nga không hẳn là thất bại, và Trung Quốc không hẳn là trọn vẹn thành công. Khủng hoảng Đông Á có nhiều nguyên nhân (nhất là ở chế độ tỷ giá bất hợp lý) không chỉ là vì sự thả lỏng thị trường vốn.
Để làm nổi bật lập luận của mình, Stiglitz có khuynh hướng "ma quỷ hoá" (demonize) đối thủ, thô tục hoá ý kiến của họ. Lắm lúc Stiglitz đi quá xa, nhất là ở chỗ đồng hoá IMF và trường phái tự do thị trường. Thực sự, nhiều người chủ chốt trong phái này cũng đã chỉ trích IMF không thua gì Stiglitz. Milton Friedman và Alan Metzler, chẳng hạn, đã từ lâu công khai kêu gọi dẹp bỏ tổ chức này, với lý do rằng chính sách cho vay cấp cứu của IMF sẽ gây một "hiểm nguy đạo đức" (moral hazard), dựa trên một lý thuyết về thông tin tinh tế không kém thuyết thông tin không đối xứng của Stiglitz.
Cũng vậy, Stiglitz đã cường điệu khi cho rằng tất cả những người theo "liệu pháp sốc" là không biết gì về sự quan trọng của thể chế. Stiglitz không thấy, hoặc không chịu nhận, rằng những nguời này có thể rất ý thức sự quan trọng đó, nhưng họ có thể nghĩ thêm rằng thực hiện trước những cải cách kinh tế (thị trường) là tốt vì chúng sẽ lôi theo (dù không phải là trơn tru) những cải cách chính trị và xã hội (chẳng hạn như: khi giai cấp trung lưu trở nên đông đảo thì những đòi hỏi dân chủ cũng sẽ mạnh mẽ hơn). Có thể là những người này lầm, song, tiên nghiệm, không phải họ hoàn toàn phi lý.
Quyển sách có một vết tì đáng tiếc, đó là Stiglitz lắm khi không công bình, có nhiều chỉ trích nặng tính cá nhân, gần như bôi lọ, đồng nghiệp lâu năm (như Stanley Fischer, Larry Summers...) chỉ vì không đồng ý với mình. Ngược lại, đa số những người chỉ trích Stiglitz là các quan chức trong Ngân Hàng Thế Giới và IMF (Wolfensohn, Fischer) Họ trách Stiglitz đã làm tổn hại uy tín và công hiệu của các tổ chức quốc tế mà chính Stiglitz đã lãnh đạo.
Vài nhà bình luận có thiện cảm với Stiglitz (như trên báo Business Week) đã so sánh ảnh hưởng quyển này với quyển Capitalism and Freedom của Milton Friedman, ở chỗ nó giúp đem lý thuyết kinh tế chuẩn mực vào các bàn cải chính sách. Đúng là công trình cũa Stiglitz sẽ làm người đọc có ý thức rõ hơn về những hạn chế của kinh tế học tân cổ điển, song tác phẩm này -- vì nhắm đơn thuần vào IMF -- sẽ ít có triển vọng cách mệnh lối nhìn của chính sách kinh tế nói chung. Dù vậy, ông đã làm nhiều người nhìn IMF và các tổ chức quốc tế với con mắt khác, ít tốt đẹp hơn. Những chỉ trích như của Stiglitz đã gây áp lực IMF công khai nhìn nhận một số sai lầm trong chính sách cũng như trong mục tiêu của tổ chức này.
Đối với những kinh tế gia thuần tuý, quyển sách này của Stiglitz sẽ gây thất vọng, hầu như tiếc nuối, vì nó chỉ nhại lại những lý thuyết đã có 20-30 năm nay, không gì mới. Stiglitz là một nhà nghiên cứu siêu việt, còn tương đối trẻ (61 tuổi), và những phân tích của ông về vai trò thông tin đã đóng góp đáng kể cho kinh tế học. Song, tiếc thay, Stiglitz chưa bao giờ sắp xếp lại những lý thuyết, công trình lẻ tẻ của mình thành một hệ thống mạch lạc. Bây giờ, với Nobel trong tay, khó tưởng tượng Stiglitz sẽ bỏ thì giờ làm việc ấy. Thế nên, điều oái oăm là khi tên tuổi Stiglitz đang lên cực điểm trong dư luận đời thường thì tên tuổi Stiglitz, nhà lý thuyết kinh tế, đã một phần đi vào cái chạng vạng của hoàng hôn nghề nghiệp.
Trần Hữu Dũng
Dayton
Tháng 6, 2002

[1] (http://www.viet-studies.info/THDung/DocStiglitz.htm#_ednref1) Chia với George Akerlof va` Michael Spence.

[2] (http://www.viet-studies.info/THDung/DocStiglitz.htm#_ednref2)Tựa tiếng Anh: "Globalization and Its Discontents", tiếng Pháp: "La Grande Désillusion", tiếng Đức: "Die Schatten der Globalisierung". Sách này được phát hành ở Pháp và Đức trước khi ở Mỹ vì, theo Stiglitz, châu Âu để ý nhiều hơn đến vấn đề toàn cầu hoá.

[3] (http://www.viet-studies.info/THDung/DocStiglitz.htm#_ednref3) Một chi tiết khá thú vị: George Akerlof (người nhận chung Nobel với Stiglitz) cũng đã lấy hứng nghiên cứu về vai trò kinh tế của thông tin qua những năm ông làm Peace Corps ở Ấn Đô.

[4] (http://www.viet-studies.info/THDung/DocStiglitz.htm#_ednref4) "Washington Consensus": Cụm từ thường dùng để gọi một số quan điểm mà chính phủ Mỹ và các tổ chức quốc tế có trụ sở tại Washington ngầm đồng ý về chính sách mà các nước đang phát triển, hoặc chuyển tiếp, cần theo. Ba quan điểm cốt lõi là (a) tự do hoá thị trường, (b) tư hữu hoá, (c) không lạm chi ngân sách.

[5] (http://www.viet-studies.info/THDung/DocStiglitz.htm#_ednref5) International Monetary Fund (Quỷ Tiền Tệ Quốc Tế)

[6] (http://www.viet-studies.info/THDung/DocStiglitz.htm#_ednref6) World Trade Organization (Tổ Chức Thương Mại Thế Giới)



Trần Hữu Dũng
GSTS Kinh Tế
Wright State University
Dayton, OH 45431
USA

studyforlife
05-10-08, 03:40 PM
TOÀN CẦU HÓA VÀ NHỮNG MẶT TRÁI



http://www.thanglong.com.vn/data/88248.jpg


- Tác giả: Joseph E. Stiglitz
- Khổ sách: 14.5x20.5cm
- Số trang: 366
- Giá bán : 64.000 VND
- Năm xuất bản: 04/2008


*** Sách chưa có ebook U à. Nếu U muốn có thể vô Thư viện Khoa học Tổng hợp đọc nó. Nó đang được bày triễn lãm tại tầng trệt đó. Mai mốt hết triễn lãm thì vô trang web thư viên kiếm là ra thông tin nó đang ở kho nào và U có thể liên hệ thủ thư để mượn đọc.

Vậy à, cám ơn bạn, tôi đang tìm e-book sách này để đọc, nếu có link cho xin nhé, thanks!!!

Duy Cong Duc Luc
11-12-08, 12:07 PM
Ai có ebook Tiếng Việt thì gửi lên nha. Còn đây ebook Tiếng Anh

Deathshine
11-12-08, 12:34 PM
DS chỉ có chương 1 và chương 2 tiEbook tiếng Việt thôi, nó đang được đánh máy,nếu cần thì DS post lên cho.
Quyển đó ko mắc lắm đâu nếu cần thì mua đi U à.

nangchieu
11-12-08, 01:03 PM
Ai có ebook Tiếng Việt thì gửi lên nha. Còn đây ebook Tiếng Anh

Cuốn này là cuốn Vận hành toàn cầu hoá, không phải cuốn Toàn cầu hoá và những mặt trái

Cá Heo
11-12-08, 05:12 PM
Có ai có e-book tiếng việt không hay bản tóm tắt không, mabuvoyeu đang cần kìa

whydothat
12-12-08, 09:17 AM
Mình có vài bài đóng góp đây, các bạn xem nhé!

Deathshine
12-12-08, 11:01 AM
Chỉ có thế thôi nha. Chẳng có nhìu hơn nữa. Mong rằng mọi người tạm hài lòng với chừng này.


Giới thiệu:

Năm 1993, tôi rời khỏi lĩnh vực học thuật và chuyển sang làm việc cho Hội đồng cố vấn kinh tế dưới quyền tổng thống Bill Clinton. Sau nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy, đây là bước đột phá lớn đầu tiên của tôi vào lĩnh vực hoạch định chính sách và hơn thế, vào lĩnh vực chính trị. Từ vị trí đó, tôi lại chuyển sang Ngân hàng Thế giới vào năm 1997, nơi tôi đảm nhiệm chức vụ Kinh tế trưởng và Phó chủ tịch cao cấp trong vòng gần 3 năm, trước khi ra đi vào tháng 1.2000. Tôi không thể chọn thời điểm nào tốt để tham gia vào việc hoạch định chính sách hơn thời điểm đó. Tôi đã ở Nhà Trắng khi nước Nga bắt đầu quá trình chuyển đổi từ một nước cộng sản và tôi đã làm việc tại Ngân hàng Thế giới đúng thời gian cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á nổ ra và sau đó lan tràn khắp thế giới. Tôi đã luôn hứng thú với chủ đề phát triển kinh tế và những gì được chứng kiến đã thay đổi mạnh mẽ quan điểm của tôi về cả toàn cầu hóa và phát triển. Tôi viết cuốn sách này từ khi tôi còn đang làm việc ở Ngân hàng Thế giới và đã trực tiếp chứng kiến những tác động tàn phá của toàn cầu hóa lên các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước nghèo trong số này. Tôi tin rằng toàn cầu hóa - sự dỡ bỏ các hàng rào dẫn đến tự do thương mại và sự hội nhập mạnh mẽ hơn của các nền kinh tế quốc gia - có thể là một sức mạnh thúc đẩy có khả năng nâng cao mức sống của mọi người trên thế giới, đặc biệt là người nghèo. Nhưng tôi cũng tin rằng, để được như thế, cách thức tiến hành toàn cầu hóa, bao gồm cả các hiệp định thương mại quốc tế đã và đang đóng vai trò quan trọng trong việc dỡ bỏ những hàng rào thương mại và những chính sách đã được áp đặt lên các nước đang phát triển trong quá trình toàn cầu hóa cần phải được suy xét lại một cách triệt để.

Là một học giả, tôi đã bỏ nhiều thời gian nghiên cứu và suy nghĩ về các vấn đề kinh tế và xã hội mà tôi phải xử lý trong suốt bảy năm làm việc tại Washington. Tôi tin rằng điều quan trọng là phải nhìn nhận các vấn đề một cách tỉnh táo, không thiên vị, gạt bỏ những hệ tư tưởng sang một bên và nhìn vào những bằng chứng trước khi quyết định đâu là phương án hành động hợp lý nhất. Thật không may, dù không mấy ngạc nhiên, trong thời gian tôi ở Nhà Trắng với tư cách là một thành viên và sau đó là Chủ tịch của Hội đồng cố vấn kinh tế (một hội đồng 3 chuyên gia do tổng thống bổ nhiệm để cố vấn về kinh tế cho chính phủ Mỹ) và thời gian ở Ngân hàng Thế giới, tôi đã thấy các quyết định được đưa ra trên cơ sở chính trị và hệ tư tưởng. Kết quả là, nhiều quyết định sai lầm đã được thực hiện, những quyết định không giải quyết được các vấn đề đang gặp phải nhưng phù hợp với lợi ích hay niềm tin của những người có quyền lực. Một trí thức Pháp, Pierre Bourdieu, đã từng viết về sự cần thiết của việc các nhà chính khách hành xử như những học giả và tham gia vào các tranh luận khoa học, dựa trên các số liệu và chứng cứ vững chắc. Thật đáng tiếc, điều ngược lại lại xảy ra thường xuyên, khi mà giới học giả tham gia cố vấn chính sách bị chính trị hóa và bắt đầu bẻ cong chứng cứ để phù hợp với quan điểm của những người có quyền.

Nếu như nghề nghiệp khoa học của tôi không trang bị cho tôi toàn bộ kiến thức để xử lý các vấn đề gặp phải khi làm việc tại Washington, DC, ít nhất nó cũng dạy tôi kiến thức và cách làm việc chuyên nghiệp . Trước khi vào Nhà Trắng, tôi đã dành thời gian cho hoạt động nghiên cứu và viết về các vấn đề kinh tế học trừu tượng (giúp phát triển một nhánh kinh tế học mà sau đó được gọi là kinh tế học thông tin), và cho các chủ đề kinh tế ứng dụng, bao gồm kinh tế học khu vực công, kinh tế phát triển và chính sách tiền tệ. Tôi đã dành hơn hai mươi lăm năm viết về các chủ đề như phá sản, cơ cấu quản trị doanh nghiệp, mức độ công khai và tiếp cận thông tin (cái mà các nhà kinh tế gọi là sự minh bạch ). Đó là những vấn đề cốt yếu vào thời điểm cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra năm 1997. Tôi cũng tham gia trong gần hai mươi năm vào những thảo luận liên quan đến sự chuyển đổi kinh tế từ mệnh lệnh sang kinh tế thị trường. Kinh nghiệm của tôi về cách thức tiến hành sự chuyển đổi ấy bắt đầu năm 1980, khi tôi lần đầu tiên trao đổi chủ đề này với các nhà lãnh đạo Trung Quốc, khi nước này đang bắt đầu chuyển sang kinh tế thị trường. Tôi đã ủng hộ mạnh mẽ cho chính sách chuyển đổi cải lương (dần dần) của Trung Quốc, chính sách đã thể hiện ưu điểm trong hơn hai thập kỷ qua; và tôi cũng chính là người phê bình gay gắt vài trong số những chiến lược cải cách cực đoan, chẳng hạn như "liệu pháp sốc", chiến lược đã thất bại thảm hại ở Nga và một số nước thuộc Liên Xô cũ.

Sự quan tâm của tôi tới các vấn đề phát triển bắt đầu thậm chí từ trước nữa, khi tôi ở Kenya làm công tác nghiên cứu (1969-71), một thời gian ngắn sau khi nước này giành được độc lập vào năm 1963. Một số công trình lý thuyết quan trọng nhất của tôi đã bắt nguồn cảm hứng từ những điều tôi đã chứng kiến tại đây. Tôi biết Kenyaphải đối mặt với những thách thức lớn nhưng tôi hy vọng là có thể làm gì đó để cải thiện cuộc sống của hàng tỷ người ở đây và ở trên toàn thế giới, những người đang sống trong tận cùng nghèo đói. Kinh tế học có vẻ như là một khoa học khô khan, bí hiểm nhưng thực tế, những chính sách kinh tế tốt có sức mạnh để thay đổi cuộc sống của hàng tỷ người nghèo. Tôi tin tưởng rằng các chính phủ cần và có thể thực hiện những chính sách giúp đất nước mình tăng trưởng nhưng cũng đảm bảo những thành quả tăng trưởng đó được chia sẻ công bằng hơn. Lấy một ví dụ cụ thể, tôi tin vào tư nhân hóa (chẳng hạn, bán các công ty độc quyền của chính phủ cho tư nhân), nhưng chỉ khi điều đó giúp các công ty trở nên hiệu quả hơn và giảm giá cho người tiêu dùng. Điều đó thường xảy ra nếu thị trường có tính cạnh tranh và đó cũng là một trong những lý do giải thích vì sao tôi ủng hộ các chính sách cạnh tranh mạnh mẽ.

Ở cả Ngân hàng Thế giới và Nhà trắng, có sự liên hệ gần gũi giữa những chính sách mà tôi ủng hộ với những nghiên cứu, phần nhiều là kinh tế lý thuyết trước đây của tôi. Hầu hết các nghiên cứu đó liên quan đến sự không hoàn hảo của thị trường- tại sao thị trường không hoạt động hoàn hảo, theo cách mà các mô hình kinh tế đơn giản hóa với giả định cạnh tranh hoàn hảo và thông tin hoàn hảo khẳng định. Tôi đưa vào quá trình hoạch định chính sách những kết quả nghiên cứu của tôi trong kinh tế học thông tin, cụ thể là vấn đề thông tin không cân xứng - sự khác nhau giữa thông tin của, chẳng hạn, ông chủ và người làm thuê, người cho vay và người đi vay, công ty bảo hiểm và người mua bảo hiểm. Những bất cân xứng đó phổ biến trong tất cả các nền kinh tế. Công trình này cung cấp nền tảng cho những lý thuyết thực tế hơn về lao động và thị trường tài chính, giải thích, chẳng hạn, tại sao thất nghiệp lại tồn tại và tại sao người cần vay tiền nhất lại không được vay - nghĩa là, nói theo thuật ngữ kinh tế, có sự hạn chế tín dụng (credit rationing). Những mô hình chuẩn mà các nhà kinh tế đã dùng hàng thế hệ cho rằng hoặc là thị trường hoạt động hoàn hảo- một số người thậm chí còn bác bỏ sự tồn tại của thất nghiệp - hoặc lý do duy nhất gây ra thất nghiệp là tiền lương quá cao. Điều này đưa đến giải pháp cho thất nghiệp là: hạ thấp tiền lương. Kinh tế học thông tin, với công cụ phân tích thị trường lao động, tín dụng và hàng hóa tốt hơn, cho phép xây dựng những mô hình kinh tế vĩ mô cung cấp sự hiểu biết sâu sắc hơn về thất nghiệp, giải thích sự giao động, suy thoái và khủng hoảng gắn liền với chủ nghĩa tư bản ngay từ những ngày đầu. Những lý thuyết đó có những hàm ý chính sách mạnh mẽ - một số hàm ý là hiển nhiên với bất kỳ ai tiếp xúc thường xuyên với thế giới thực tại- chẳng hạn, nếu bạn nâng lãi suất đến mức thái quá, các hãng có tỷ lệ nợ cao có thể bị buộc phá sản, và điều đó không tốt cho nền kinh tế. Trong khi tôi nghĩ rằng điều đó quá rõ ràng, những chính sách đó lại trái ngược với những chính sách mà Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thường đòi hỏi.



Những chính sách của IMF, một phần dựa vào giả định lỗi thời là các thị trường tự thân nó sẽ đưa tới hiệu suất và hiệu quả, không cho phép các chính phủ can thiệp có hiệu quả vào thị trường, các biện pháp can thiệp mà có thể dẫn dắt tăng trưởng và làm cho mọi người sống khá hơn. Cốt lõi ở đây, điều mà trong nhiều tranh luận tôi sẽ trình bày ở các trang sau, là vấn đề hệ tư tưởng và những quan niệm về vai trò của chính phủ sinh ra từ hệ tư tưởng đó.

Mặc dù những tư tưởng đó có vai trò quan trọng trong hình thành chính sách phát triển, kiềm chế khủng hoảng, và chuyển đổi kinh tế, chúng cũng đóng vai trò trung tâm trong suy nghĩ của tôi về cải cách các tổ chức quốc tế chịu trách nhiệm thúc đẩy phát triển, kiềm chế khủng hoảng và hỗ trợ chuyển đổi kinh tế. Nghiên cứu của tôi về thông tin khiến cho tôi dành sự chú ý đặc biệt đến những hậu quả của việc thiếu thông tin. Tôi vui mừng khi nhận thấy sự tập trung vào vấn đề minh bạch trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 1997-1998. Nhưng tôi lại buồn vì sự đạo đức giả của các tổ chức quốc tế, IMF và Bộ Tài chính Mỹ, những cơ quan đã nhấn mạnh tính minh bạch ở Đông Á nhưng lại là những cơ quan kém minh bạch nhất mà tôi từng gặp. Đó là lý do tại sao trong thảo luận về cải cách, tôi nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường tính minh bạch, cải thiện thông tin mà các công dân có được về những hoạt động của các tổ chức này, cho phép những ai bị ảnh hưởng bởi các chính sách có tiếng nói lớn hơn trong việc hoạch định các chính sách đó. Sự phân tích về vai trò của thông tin trong các tổ chức chính trị đã hình thành và phát triển khá tự nhiên trong các công trình trước đây của tôi về vai trò của thông tin trong kinh tế.

Một trong số những điều thú vị khi đến làm việc ở Washingtonlà cơ hội không chỉ tích lũy hiểu biết tốt hơn về cơ chế làm việc của chính phủ mà còn có thể đề xuất một đưa vào áp dụng một số kiến thức mà các nghiên cứu của tôi đã chỉ ra. Chẳng hạn, là chủ tịch hội đồng cố vấn kinh tế của chính quyền Clinton, tôi đã cố gắng định hình các chính sách và triết lý kinh tế trong đó coi thị trường và chính phủ là bổ sung cho nhau, cả hai cùng hợp tác với nhau và thừa nhận rằng mặc dù thị trường là trung tâm của nền kinh tế, chính phủ vẫn đóng vai trò quan trọng, mặc dù có thể có hạn chế. Tôi đã nghiên cứu thất bại của cả thị trường và chính phủ và không ngây thơ đến mức tin rằng chính phủ có thể sửa chữa được mọi thất bại thị trường. Ngược lại, tôi cũng không ngốc nghếch tin rằng thị trường tự bản thân nó có thể giải quyết mọi vấn đề xã hội. Bất bình đẳng, thất nghiệp, ô nhiễm môi trường là những vấn đề chính phủ phải đóng vai trò quan trọng. Tôi đã nghiên cứu sáng kiến "tái sáng tạo chính phủ" - làm chính phủ trở nên hiệu quả và đáp ứng tốt hơn. Tôi đã thấy những chính phủ không hiệu quả và cũng không đáp ứng tốt. Tôi đã thấy cải cách khó như thế nào; nhưng tôi cũng đã thấy rằng sự cải thiện, dù là khiêm tốn, là hoàn toàn có thể. Khi tôi chuyển tới Ngân hàng Thế giới, tôi đã hy vọng có thể đem đến một cách nhìn cân bằng, và mang những bài học tôi đã học được, để giải quyết những vấn đề phức tạp mà thế giới đang phát triển phải đối mặt.

Bên trong chính quyền Bill Clinton, tôi đã tham gia vào nhiều cuộc tranh luận chính trị, đã thắng vài cuộc và thua những cuộc khác. Là một thành viên nội các của tổng thống, tôi có được vị trí tốt để không chỉ quan sát các cuộc tranh luận, xem nó được giải quyết thế nào, đặc biệt là trong những lĩnh vực liên quan đến kinh tế, mà còn trực tiếp tham gia vào chúng. Tôi biết rằng hệ tư tưởng là quan trọng nhưng chính trị cũng vậy, và một trong những nhiệm vụ của tôi là thuyết phục người khác rằng những cái tôi ủng hộ không chỉ tốt về mặt kinh tế, mà còn tốt về mặt chính trị. Nhưng khi tôi chuyển sang vũ đài quốc tế, tôi nhận ra rằng chẳng có thứ nào trong hai thứ đó là quan trọng trong hoạch định chính sách, đặc biệt là tại IMF. Các quyết định được đưa ra trên cơ sở một sự lẫn lộn kỳ lạ giữa hệ tư tưởng và kinh tế học kém cỏi, những giáo điều đôi khi dường như bị che phủ bởi lợi ích cục bộ. Khi cuộc khủng hoảng nổ ra, IMF đã kê một đơn thuốc lỗi thời, không thích hợp nhưng "chuẩn mực" mà không thèm quan tâm đến những ảnh hưởng mà nó có thể có lên người dân ở các quốc gia được tư vấn sử dụng các chính sách này. Hiếm khi tôi thấy những dự báo chỉ ra rằng các chính sách này sẽ giúp giảm nghèo thế nào. Cũng hiếm khi tôi được thấy những thảo luận kỹ càng và các phân tích về hậu quả của các chính sách thay thế. Chỉ có một phương án. Các phương án khác không được tính đến. Thảo luận thẳng thắn, công khai không được khuyến khích - chẳng có chỗ cho chúng. Hệ tư tưởng đã chỉ đạo việc xây dựng chính sách và các nước được kỳ vọng là sẽ tuân theo những hướng dẫn của IMF mà không được bàn cãi.

Thái độ đó khiến tôi ghê sợ. Không phải vì các chính sách này thường có kết quả rất tồi, mà bởi vì điều đó là phản dân chủ. Trong cuộc sống cá nhân của chúng ta, chúng ta không bao giờ mù quáng đi theo các ý tưởng mà không tìm kiếm các lời khuyên khác nhau. Nhưng các nước trên toàn thế giới được chỉ bảo phải làm thế. Những vấn đề ở các nước đang phát triển thường rất khó, và IMF thường được gọi đến trong tình trạng xấu nhất, khi một nước gặp khủng hoảng. Nhưng phương thuốc của IMF lại thường thất bại, và thất bại nhiều hơn là thành công. Những chính sách điều chỉnh cơ cấu của IMF giúp các quốc gia điều chỉnh khi gặp khủng hoảng hay mất cân đối dai dẳng đã dẫn đến đói nghèo và bạo loạn ở nhiều quốc gia. Và ngay cả khi những hậu quả không khủng khiếp lắm, ngay cả khi đôi khi có tăng truởng trong chốc lát, thì những lợi ích thu được bị phân chia không đều có lợi cho người giàu và những người ở dưới đáy xã hội đôi khi thậm chí trở nên nghèo hơn. Tuy nhiên, điều làm tôi ngạc nhiên là nhiều người có quyền ở IMF, nhiều người đang đưa ra những quyết định quan trong, không hề đặt băn khoăn liệu những chính sách đó có tốt hay không. Thay vào đó, những chính sách này thường bị chất vấn bởi những người ở các nước đang phát triển. Nhưng nhiều người lại sợ rằng họ có thể bị mất nguồn tài trợ từ IMF và cùng với nó là nguồn tài trợ từ các tổ chức khác nên họ rất thận trọng khi tỏ ra nghi ngờ các chính sách này và sau đó chỉ bàn thảo một cách kín đáo với nhau. Nhưng trong khi không ai hạnh phúc khi phải chịu đựng những hậu quả thường theo sau các chương trình của IMF, trong lòng IMF người ta giản đơn cho rằng những chịu đựng chỉ là một phần của sự đau đớn mà các nước phải trải qua trên con đường trở thành một nền kinh tế thị trường thành công và rằng những biện pháp họ áp dụng thực tế làm giảm nỗi đau mà các nước phải gánh chịu trong dài hạn.

Không nghi ngờ gì, một số thay đổi đau đớn là cần thiết. Nhưng theo đánh giá của tôi, những đau đớn mà các quốc gia đang phát triển phải chịu trong quá trình toàn cầu hóa và phát triển theo chỉ dẫn bởi IMF và các tổ chức quốc tế là vượt quá mức cần thiết. Những cuộc bạo động chống toàn cầu hóa đã tập hợp sức mạnh không chỉ do sự tàn phá ở các nước đang phát triển do những chính sách dựa trên hệ tư tưởng gây ra mà còn do sự bất bình đẳng trong hệ thống thương mại toàn cầu. Ngày nay, rất ít người, trừ những kẻ được lợi từ việc ngăn cản hàng hóa nhập khẩu từ các nước đang phát triển, bảo vệ sự đạo đức giả của việc giả vờ giúp các quốc gia dang phát triển bằng cách ép họ mở của thị trường cho hàng hóa của các nước phát triển trong khi bảo vệ thị trường của riêng họ. Đây chính là chính sách làm cho người giàu giàu hơn và người nghèo nghèo hơn và giẫn dữ hơn.

Cuộc tấn công tàn bạo ngày 11.9 đã cho thấy rõ một điều: chúng ta chia sẻ cùng một hành tinh. Chúng ta là một cộng đồng toàn cầu và mọi cộng đồng phải đều tuân theo một số luật lệ nào đó để có thể sống được với nhau. Những luật lệ này phải công bằng và do đó, phải quan tâm đúng mức đến cả những người nghèo khổ và những người có quyền lực, phải phản ánh bản chất văn minh và công lý xã hội. Trong thế giới ngày nay, luật pháp phải được xây dựng qua những quá trình dân chủ. Luật pháp mà theo đó các cơ quan quản lý và chính quyền hoạt động phải quan tâm và đáp ứng những nhu cầu và mong muốn của những người bị ảnh hưởng bởi các chính sách và quyết định được đưa ra ở một nơi nào đó xa xôi.

Cuốn sách này được viết dựa trên chính những kinh nghiệm của tôi. Không có nhiều chú thích và trích dẫn như thường thấy trong các báo cáo khoa học. Thay vào đó, tôi cố gắng mô tả các sự kiện mà tôi đã chứng kiến và kể lại vài trong số những câu chuyện mà tôi đã nghe. Không có súng đạn ở đây. Bạn sẽ không tìm thấy những chứng cứ thuyết phục nào về âm mưu bẩn thỉu của phố Wall và IMF nhằm chiếm đoạt thế giới. Tôi không tin là cái âm mưu đó tồn tại. Sự thật tinh vi hơn thế nhiều. Thường là một tiếng nói của ai đó, hay một cuộc họp kín sau cánh cửa, hay một memo quyết định kết quả của các cuộc thảo luận. Rất nhiều người trong số người tôi chỉ trích sẽ nói là tôi sai. Thậm chí họ có thể tạo ra các bằng chứng chống lại quan điểm của tôi về những điều đã xảy ra. Tôi chỉ có thể đưa ra những lý giải về cái tôi đã thấy.

Khi tôi vào Ngân hàng Thế giới, tôi đã định dành phần lớn thời gian cho vấn đề phát triển và vấn đề của các nước đang cố gắng thực hiện quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường. Nhưng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và những tranh luận về cải cách cấu trúc tài chính quốc tế - hệ thống quản lý các hoạt động tài chính và kinh tế quốc tế - nhằm làm cho toàn cầu hóa mang tính người hơn, hiệu quả và công bằng hơn đã chiếm phần lớn thời gian của tôi. Tôi đã công hàng chục nước khắp thế giới, nói chuyện với hàng nghìn quan chức chính phủ, bộ truởng tài chính, thống đốc ngân hàng trung ương, giới học giả, những nhà phát triển, thành viên các tổ chức phi chính phủ, các nhà ngân hàng, nhà kinh doanh, sinh viên, các nhà hoạt động chính trị và nông dân. Tôi đã gặp các du kích Hồi giáo ở Mindanao (hòn đảo của Phillipine đã từ lâu trong trạng thái nổi loạn), đi dọc dãy Himalaya để thấy những ngôi trường ở vùng sâu Butan hay những dự án thủy lợi trong những ngôi làng ở Nepal, đã thấy ảnh hưỏng của các chương trình tín dụng nông thôn và các chương trình cho phụ nữ ở Bangladesh và đã chứng kiến tác động của các chương trình xóa đói giảm nghèo ở những ngôi làng trong những vùng núi nghèo nhất Trung Quốc. Tôi thấy lịch sử đang được viết và tôi đã học được rất nhiều. Tôi cố gắng chắt lọc những gì tinh tuý nhất trong những điều tôi đã thấy và đã học được và thể hiện chúng trong cuốn sách này.

Tôi hy vọng cuốn sách của tôi sẽ mở ra một cuộc tranh luận, một cuộc tranh luận đáng lẽ nên diễn ra không chỉ sau những cánh cửa đóng kín của chính phủ và tổ chức quốc tế, hoặc ngay cả trong không khí cởi mở của trường đại học. Những người mà cuộc sống của họ bị ảnh hưởng bởi các quyết định về cách thức tiến hành toàn cầu hóa có quyền tham gia vào cuộc tranh luận và họ có quyền biết các quyết định đó đã được đưa ra như thế nào trong quá khứ. Ít nhất, cuốn sách này phải cung cấp thêm thông tin về những sự kiện xảy ra trong thập kỷ vừa qua. Thêm thông tin chắn chắn sẽ giúp đưa ra các quyết định tốt hơn và các quyết định này sẽ dẫn đến các kết quả tốt hơn. Nếu điều đó xảy ra, tôi cảm thấy là tôi đã đóng góp được gì đó.



Cấu trúc xuất bản của cuốn sách:




Mục lục

Lời nói đầu ix

Lời cảm ơn xvii

Chương 1: Lời hứa của các tổ chức toàn cầu
Chương 2: Những lời hứa bị phá bỏ
Chương 3: Quyền tự do lựa chọn?
Chương 4: Khủng hoảng tài chính Đông Á: Làm thế nào mà chính sách của IMF đưa thế giới đến bờ vực của sự sụp đổ
Chương 5: Ai đánh mất nước Nga
Chương 6: Những luật lệ thương mại bất công và những thủ đoạn khác
Chương 7: Những con đường tốt hơn hướng tới thị trường
Chương 8: Lịch trình khác của IMF
Chương 9: Con đường phía trước

truong phuc thinh
14-03-10, 01:55 PM
Mình thấy phiên bản tiếng việt có bán tại các nhà sách thuộc hệ thống của Fahasa đó ( 173 Cô Giang, Q1- 82 Lê Lợi...)