PDA

View Full Version : Việt Nam - có hay không một nguy cơ khủng hoảng???



HộtMít
20-02-08, 11:10 AM
Tình hình là dạo này, nền kinh tế của chúng ta dường như đang có rất nhiều vấn đề để nói

- Lạm phát: Vượt ngưỡng 1 con số, đạt đến 12,63%, cao nhất trong vòng hơn một thập kỷ qua, cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP, cụm từ 'lãi suất thực âm' xuất hiện trở lại.. - Đã lâu lắm rồi, lạm phát mới lại trở thành một chủ đề khiến báo giới và các chuyên gia phân tích hao tốn nhiều giấy mực đến thế

- Lãi suất: sự biến động trong tgian vừa rồi đã có thể diễn tả là "khủng khiếp" chưa nhỉ?? LS liên NH 43%, LS cho vay của các NHTM rục rịch tăng từ mức phổ biến là ~1% trước đây đến thời điểm hiện tại ~1,5- 1,7%, lsuất Repo CP ngất ngưởng 30%

- Thị trường BĐS sau một chuỗi những cơn sốt không rõ nguyên nhân trong năm 2007 đến thời điểm hiện tại có thể nói đang chìm ngập trong vòng quay luẩn quẩn của giới đầu cơ. Với năng lực tài chính yếu kém, nguồn vốn chủ yếu từ nợ vay Ngân hàng, không hiểu trong thời gian tới, khi Ngân hàng điều chỉnh lại lãi suất, cái thị trường lúc nóng lúc lạnh này sẽ đi đâu về đâu??

- Chứng khoán vẫn đang tiếp tục chuỗi ngày rà sàn

... cùng hàng loạt, hàng loạt những vấn đề khác nữa

và cái mà tui muốn hỏi các bạn ở đây là 'liệu có hay không nguy cơ của một cuộc khủng hoảng trong thời gian tới'??

đành rằng, khi lạm phát cao, đối sách cổ điển nhất vẫn là 'thắt chặt tiền tệ', nhưng với những động thái như đã nêu ở trên, liệu thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản,.. sẽ thế nào???

:please: :please:

tttp
20-02-08, 12:08 PM
Việc có hay không là một câu hỏi khó nhưng nguy cơ thì đang kề cận. Tình hình hiện nay thì thật là khó khăn cả ở khu vực vi mô và vĩ mô.

Việc thắc chặt cho vay chứng khoán và bất động sản, việc này đã ảnh hưởng làm cho thị trường chứng khoán ngày càng tụt dốc VN index hôm nay khoảng 744, còn thị trường nhà đất HCM các chuyên gia dự đoán là sẽ đóng băng trong năm nay.

Các ngân hàng hầu như thiếu lượng tiền mặt VND nên buộc phải tăng lãi suất huy động, lãi suất cho vay tăng khiến các doanh nghiệp gặp không ít khó khăn ...

Mặc dù sau Tết nhưng giá cả vẫn tăng .... làm sao đây?

Vấn đề hấp thụ USD lâm vào cảnh khó khăn, ngân hàng nhà nước và nền kinh tế không còn đủ khả năng để hấp thụ lượng USD, tỷ giá ngày càng giảm, VND ngày càng tăng giá (Tỷ giá hôm nay là 15949đ/USD - giá sàn) khiến các doanh nghiệp xuất khẩu gặp không ít khó khăn ...
..............
Khó khăn này chồng chất khó khăn khác, nền kinh tế VN sẽ ra sao? Một câu hỏi LỚN ...

PT3

huynhanhkiet
21-02-08, 01:59 PM
Phân tích định lượng đi bác ui. Chúng ta cần số liệu cụ thể mới kết luận được. Hiện tại, toàn là đoán và mò không à. Rút kinh nghiệm vụ thị trường chứng khoán đi. Đầu năm, mấy bác chuyên gia nhà ta dự báo cuối năm 2007, sau khi các doanh nghiệp công bố lợi nhuận sau 6 tháng hoạt động thì giá chứng khoán sẽ tăng. Cuối cùng, lại xảy ra theo chiều hướng ngược lại. Mấy bác chuyên gia không thấy y kiến gì. Hi hi :Cuoisacsua:
Túm lại, đề tài rất hay nhưng chúng ta cần phân tích sâu hơn, dựa vào các cơ sở lý thuyết kinh tế vĩ mô + số liệu cụ thể, chứ không nên đưa ra suy nghĩ chủ quan của mọi người. Cao học rùi mà :Honho:

huynhanhkiet
21-02-08, 05:01 PM
'VN nên tiếp tục thắt chặt tiền tệ để kìm chế lạm phát'

Tại buổi họp báo sáng nay trước khi kết thúc chuyến thăm 3 ngày tại VN, Chủ tịch Ngân hàng ADB Haruhiko Kuroda cho rằng, các biện pháp thắt chặt tiền tệ mà VN đang tiến hành sẽ giúp giảm lạm phát từ 2 con số xuống 1 con số trong vài tháng tới, có thể chỉ còn 7-8%.

Để giải bài toán lạm phát hiện nay, ông Haruhiko Kuroda khuyến nghị Chính phủ nên tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, giám sát chặt chẽ chỉ số lạm phát, cán cân thanh toán, đảm bảo phát triển kinh tế bền vững.

Chủ tịch Haruhiko Kuroda nhận xét, VN có nền tảng kinh tế vững mạnh. Về trung và dài hạn, tốc độ tăng trưởng kinh tế hằng năm có thể sẽ đạt 8,5-9% nếu làm tốt công tác cải cách kinh tế và cải thiện cơ sở hạ tầng.

Người đứng đầu ADB cho rằng, do tác động của sự giảm sút kinh tế toàn cầu bắt đầu từ Mỹ, năm 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế của VN có thể sẽ giảm đôi chút, xuống còn 8%. Tuy nhiên, sự sụt giảm này trong thực tế có thể có lợi, đặc biệt là trong vấn đề kiểm soát lạm phát và đảm bảo phát triển kinh tế bền vững.

Kể từ khi tái hoạt động tại VN vào năm 1993, ADB đã hỗ trợ 5,5 tỷ USD thông qua các khoản vay, hỗ trợ kỹ thuật, viện trợ không hoàn lại. Chương trình hỗ trợ của ADB dành riêng cho VN trong năm 2008 bao gồm các khoản vay và hỗ trợ kỹ thuật trị giá từ 1,3 đến 1,6 tỷ USD.

Hỗ trợ của ADB phụ thuộc vào mức độ tiến bộ của nền kinh tế cũng như những ưu tiên phát triển của Chính phủ đối với nền kinh tế. Theo ông Haruhiko Kuroda, khi VN trở thành nước có thu nhập trung bình, các khoản hỗ trợ ưu đãi của ADB sẽ giảm đi, thay vào đó là những khoản vay ít ưu đãi hơn. Ngoài ra, ông khẳng định, sắp tới, sự trợ giúp của ADB dành cho VN sẽ theo hướng tập trung vào những lĩnh vực cụ thể như phát triển cơ sở hạ tầng, y tế, bảo vệ và cải thiện môi trường.

lucchungha
21-02-08, 05:54 PM
Áh àh, cái bác Nhật Bổn này cũng nói chung chung quá. Sao bác k lo giải quyết cái nền kinh tế của nước bác đi. Kinh tế đình trệ mấy năm rùi, và năm nay cũng k được khả quan cho lắm.
Cái thời năm 2004 VN cũng thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, và biện pháp này tỏ ra hiệu quả, bằng chứng là 2005 tình hình ổn định, 2006 kinh tế khởi sắc và 2007 hội nhập tốt đẹp. Nhưng bây giờ hoàn cảnh hơi khác, VN đã mở rộng cửa rồi, nên ảnh hưởng sâu sắc hơn từ nền kinh tế toàn cầu. Có lẽ VN sẽ k rơi vào khủng hoảng đâu, chỉ tăng trưởng yếu đi thôi.
Nhưng Nhà nước thắt chặt tiền tệ thì vốn đâu các doanh nghiệp kinh doanh để phát triển nhỉ?

huynhanhkiet
21-02-08, 09:53 PM
Áh àh, cái bác Nhật Bổn này cũng nói chung chung quá. Sao bác k lo giải quyết cái nền kinh tế của nước bác đi. Kinh tế đình trệ mấy năm rùi, và năm nay cũng k được khả quan cho lắm.

Hic. Bác Nhật Bổn đó là chủ tịch ngân hàng ADB đóa bác. Sao bác lại nói thế :nherang:



Nhưng Nhà nước thắt chặt tiền tệ thì vốn đâu các doanh nghiệp kinh doanh để phát triển nhỉ?

Mục tiêu của chính sách thặt chặt tiền tệ là gì nhuể. khà khà :Honho:

nttd
22-02-08, 09:44 AM
ừa thì thắt chặt tiền tệ, nhưng có cần phải sock đến thế hay không ??

nguy cơ lạm phát cao đột biến của năm 2007 người ta đã nói rần rần từ giữa năm, muốn thắt sao không làm dần từ hùi đó, giờ bày bỗng nhiên ầm một cái, vừa tăng lsuất thị trường mở (lãi suất vay NHNN qua thị trưởng mở đạt mức cao nhất 30,1%/năm vào ngày 15/02 chứ không phải 40,3% như ngta nói), vừa tăng tlệ dtrữ bbuộc (hiện tại 11%), vừa phát hành tín phiếu bắt buộc (20.300tỷ),..

Trích nguyên văn CV chỉ đạo định hướng hoạt động của 1 NH lớn nhất nhì VN hnay: Công tác điều hành cân đối nguồn vốn đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn theo nguyên tắc tăng trưởng sử dụng vốn căn cứ vào khả năng huy động vốn, ưu tiên nguồn vốn cho nhu cầu dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán, mua tín phiếu NHNN..

Ừa thì thắt chặt, nhưng đến mức làm gần như stop tất cả các hoạt động tín dụng của cả hệ thống NH như thế thì hậu quả đối với nền ktế sẽ thế nào??

Nhìn vào chỉ số tăng giá của các nhóm mặt hàng trong rổ hàng hoá năm 2007: (Nguồn: Tổng cục Thống kê):


http://img175.imageshack.us/img175/5424/chisogia2007pf5.png (http://imageshack.us)

biểu hiện của cái sự tăng giá tập trung cao nhất ở 2 nhóm ngành có quyền số cao nhất trong rổ hàng hoá: ăn uống và dịch vụ ăn uống (42,85%), nhà ở và vật liệu xây dựng (9,99%), mà sự tăng giá của 2 nhóm ngành hàng này là hoàn toàn có thể dự báo trước từ những dịch cúm gia cầm, dịch heo tai xanh.. từ những chủ trương sẽ cho người nước ngoài mua nhà, từ những cấp phép xây dựng dự án ồ ạt, từ những không quản lý được tình trạng đầu cơ lướt sóng BĐS, từ những không quản lý được dòng vốn NH tiếp tay cho những hoạt động đầu cơ lướt sóng đó..

Chẳng dám bàn cãi về cái phong cách điều hành vĩ mô của các pac nhà mình, nhưng khủng hoảng BĐS - và tiếp theo là một cơn rúng động đối với cả nền ktế - là điều mà em đang nghĩ tới :MacCuoi:

Cá Heo
22-02-08, 09:49 AM
ừa thì thắt chặt tiền tệ, nhưng có cần phải sock đến thế hay không ??

Ừa thì thắt chặt, nhưng đến mức làm gần như stop tất cả các hoạt động tín dụng của cả hệ thống NH như thế thì hậu quả đối với nền ktế sẽ thế nào??

Chẳng dám bàn cãi về cái phong cách điều hành vĩ mô của các pac nhà mình, nhưng khủng hoảng BĐS - và tiếp theo là một cơn rúng động đối với cả nền ktế - là điều mà em đang nghĩ tới :MacCuoi:

Mình dân gốc không phải là Kinh Tế, nhưng có học qua môn Ứng dụng lý thuyết hệ thống thấy những người điều hành nền kinh tế vi phạm nghiêm trọng những nguyên tắc của lý thuyết hệ thống. Đâu phải cứ thấy khát nước là uống, thấy địch là bắn. Bạn nttd nói rất đúng đó

nttd
22-02-08, 09:50 AM
hic, nhân tiện, nhóm em sắp tới sẽ phải thuyết trình đề tài 'lạm phát ở VN trong thời gian qua'

nhờ các pac tư vấn cho em ít nguyên nhân & giải pháp :hunnhau2:

huynhanhkiet
22-02-08, 09:54 AM
Vấn đề ở đây chỉ là "Đùng 1 cái". Không có sự chuẩn bị trước làm các ngân hàng và doanh nghiệp bị "hố hàng". :Honho:
Nhưng nhà nước theo đuổi chính sách thắt chặt tiền tệ là cần thiết vì nhà nước đang theo đuổi mục tiêu là "tăng trưởng bền vững":

Ý kiến chuyên gia:

20 Tháng 2 2008 - Cập nhật 12h21 GMT

'Không thể xem thường nguy cơ bất ổn'

TS Lê Đăng Doanh
TS Lê Đăng Doanh là cựu cố vấn về kinh tế cho chính phủ
Giá cả tăng cao là vấn đề nóng bỏng hiện thời ở trong nước. Tỷ lệ lạm phát năm ngoái đã lên hai chữ số và chưa có xu hướng giảm đi.

Đài BBC đã có cuộc trò chuyện quanh chủ đề này với nhà kinh tế hàng đầu, tiến sỹ Lê Đăng Doanh, tại Hà Nội.

Tiến sỹ Lê Đăng Doanh (TS LĐD): Tỷ lệ lạm phát ở VN năm 2007 là 12.6%, thuộc loại cao nhất khu vực, chỉ sau Myanmar với trên 40%.

Trong tháng Giêng và tháng Hai chúng ta thấy chỉ số giá cả tiếp tục tăng và tôi nghĩ đây phải là một trong các mối lo ngại hàng đầu và ưu tiên hàng đầu cùa chính phủ VN để ổn định kinh tế vĩ mô cũng như ổn định đời sống cho người lao động, nhất là những người nghèo.

BBC: Thưa ông, nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng lạm phát hiện nay, khiến thu nhập thực tế của những người làm công ăn lương giảm rõ rệt?

TS LĐD: Điều này, theo tôi có ba nguồn gốc.

Thứ nhất là giá vàng và giá dầu thô tăng, không chỉ dẫn tới giá xăng dầu tăng mà tất cả các sản phẩm từ dầu thô như phân bón, thuốc trừ sâu, chất dẻo, nguyên liệu đồ nhựa, sợi tổng hợp vv... đều tăng. Rồi cước phí vận tải cũng tăng, tác động đến mặt bằng giá cả.

Thứ hai, các diễn biến về cung cầu trên thị trường phức tạp. Thí dụ VN hiện nay đang qua một đợt rét lịch sử, khiến cho gia súc bị chết, rau quà̉ cũng bị mất mùa và đương nhiên giá cả tăng lên. Sự mất cân đối cung cầu này cần được xử lý kịp thời, như tìm nguồn cung cấp thay thế hoặc nhập khẩu.


Điểm thứ ba có liên quan tới chính sách tiền tệ. Trong năm 2007, VN đã xuất ra một lượng tiền mặt rất lớn để mua vào 9 tỷ đôla. Theo kinh tế học thì sau khi xuất ra lượng tiền lớn như vậy phải có biện pháp trung hòa, như bán trái phiếu và nâng lãi suất ngân hàng để vô hiệu hóa số tiền vừa phát hành đó. Nhưng các biện pháp này chúng ta làm quá chậm, dẫn tới chỉ số giá cả tăng cao.

Ngoài ra còn một số yếu tố khác như lượng tín dụng cấp cho các doanh nghiệp để xây dựng cơ bản, qua một số vòng quay nhất định cũng sẽ ra thị trường và tác động tới tổng lượng tiền.

Một yếu tố nữa là giá bất động sản ở VN cao một cách phi lý và đang có phương hại tới môi trường đầu tư.

BBC: Giá cả tăng như vậy khiến người nghèo càng nghèo hơn. Khoảng cách giàu nghèo trong xã hội VN, theo ông đánh giá, đang ở mức độ thế nào?

TS LĐD: VN đã tăng được mức thu nhập bình quân đầu người, song đồng thời chỉ số chênh lệch giữa chi tiêu củ̀a người giàu và người nghèo cũng tăng lên một cách nhanh chóng.

Mức thu nhập của chúng ta hiện ở mức 835 đôla/người nhưng chênh lệch chi tiêu giàu nghèo của ta đã ngang bằng với Trung Quốc trong khi mức thu nhập của TQ là khoảng 2.000 đôla/người. Đó là điều cần chú ý.

Tuy nhiên tôi nghĩ ngay cả chỉ số đó cũng chưa phản ánh đúng chênh lệch giàu nghèo ở VN vì chúng ta không kiểm soát được nguồn thu và mức độ chi tiêu bằng tiền mặt trong xã hội còn quá lớn.

Theo tôi, tình trạng này không thể xem thường và phải có các biện pháp tích cực để trợ giúp cho người nghèo.

BBC: Khoảng cách giàu nghèo như vậy có thể gọi là bất công hay không, thưa ông?

TS LĐD: Theo tôi, đó là thể hiện một phần của sự bất công. Nhưng bất công lớn nhất trong xã hội là bất công về cơ hội được tiếp cận với giáo dục và cơ hội được nói lên tiếng nói của mình.

Nghèo không chủ yếu là nghèo tiền, mà đáng sợ là nghèo về trí tuệ, về tri thức. Người nghèo không tiếp cận được báo chí, giáo dục, khi cất tiếng nói không được lắng nghe. Theo tôi nhà nước cần chú ý để bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội có tiếng nói như nhau.


Bất công lớn nhất trong xã hội là bất công về cơ hội được tiếp cận với giáo dục và cơ hội được nói lên tiếng nói của mình.


BBC: Thưa ông bên TQ người ta đã cảnh báo nguy cơ mất ổn định xã hội chính vì khoảng cách giàu nghèo và tình trạng bất công. Tại VN, với mô hình kinh tế nhiều nét tương đồng, liệu có nguy cơ này hay không?

TS LĐD: Nguy cơ bất ổn định xã hội hoàn toàn không thể xem thường. Bởi vì đối với những người nông dân mất đất để xây dựng và công nghiệp hóa, họ được đền bù một khoản nhất định nhưng sau đó không được tạo điều kiện để có thu nhập ổn định, công ăn việc làm.

Đó là nguy cơ lớn và trong thời gian qua đã có một số biểu hiện của nguy cơ mất ổn định.

Sắp tới đây, trong năm 2008 này, chúng ta đã thấy xuất hiện ảnh hưởng của kinh tế Hoa Kỳ tới các nền kinh tế thế giới và có thể đoán được rằng cạnh tranh sẽ trở nên gay gắt. Hàng TQ, nếu không bán được sang Hoa Kỳ thì sẽ tìm cách để tràn ngập thị trường VN.

Điều đó có nghĩa, có những doanh nghiệp hôm nay còn có việc làm nhưng ba tháng nữa thì chưa dám chắc. Chúng ta phải chú ý có những biện pháp về an sinh xã hội để bảo đảm mức sống tối thiểu cho những người tạm thời không có việc làm đó.

MANUTD
22-02-08, 01:04 PM
CÁC BÁC ƠI, CHUẨN BỊ TINH THẦN ĐÓN NHẬN NỀN KINH TẾ VIỆTNAM ĐANG KHỦNG HỎANG ĐI- CUỐI NĂM NÀY SẼ BIẾT, BÊN MỸ CÒN BỊ DÍNH HUỐNG CHI VIỆT NAM
TUI THẤY VIỆT NAM NAM NAY TIÊU RỒI...KA.KAKA

Việt Nam và 4 dấu hiệu khủng hoảng tài chính

Liệu Việt Nam có đang đứng trước một cuộc khủng hoảng tài chính?

Xét về mặt ngắn hạn, câu trả lời được Giáo sư David Dapice, Chuyên gia kinh tế trưởng Chương trình “Việt Nam cùng các cộng sự” đưa ra là “Không”. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng, nhiều dấu hiệu yếu kém từng là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng 1997 đang xuất hiện ở Việt Nam.

Những lập luận cho nhận định trên được các giáo sư, chuyên gia của Đại học Harvard danh tiếng nói tới trong bài viết “Lựa chọn thành công” đã được chúng tôi đề cập gần đây. Đây là một công trình nghiên cứu có chất lượng không chỉ bao trùm các vấn đề mang tính chiến lược phát triển lâu dài mà còn đề cập nhiều ý tưởng về các biện pháp cho những vấn đề nóng hổi mang tính thời sự hiện nay.

Lịch sử có lặp lại?

Nhóm chuyên gia nhìn nhận Việt Nam đã có nhiều thay đổi qua 20 năm với thành tích tăng trưởng cao và rất nhiều người dân Việt Nam đã thoát nghèo. Họ nói: “Với tư cách một quốc gia, Việt Nam ngày càng nhận được sự nể trọng và có ảnh hưởng ngày càng lớn trong cộng đồng quốc tế”.

Theo các chuyên gia, bên cạnh những thành quả đó, Việt Nam cần hành động một cách quả quyết nhằm ngăn chặn những nguy cơ làm suy giảm tốc độ tăng trưởng. Một trong những nơi có thể xảy ra là hoạt động của hệ thống tài chính. Bên cạnh yếu tố lạm phát thì vấn đề trung tâm được các chuyên gia đề cập đến chính là hiệu quả đầu tư.

Các chuyên gia nhận xét: “Trong khi khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tạo ra hơn 90% việc làm trong khu vực công nghiệp và gần 70% sản lượng công nghiệp thì phần lớn tín dụng và đầu tư của Nhà nước lại được dành cho khu vực kinh tế quốc doanh”. Và “giao dịch nội gián đã trở thành hiện tượng phổ biến trên thị trường chứng khoán, trong đó nạn nhân là các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Đồng thời, các giám đốc và những người “chủ” doanh nghiệp vẫn tiếp tục lợi dụng kẽ hở của thị trường để trục lợi cho mình”.

Đề cập đến những dấu hiệu chủ yếu đang xuất hiện ở Việt Nam cũng từng là nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997, Giáo sư Đại học Harvard đưa ra 4 dấu hiệu chính.

Đầu tiên, mặc dù thị trường chứng khoán đã phát triển rất nhanh trong thời gian qua nhưng hệ thống tài chính của Việt Nam vẫn chịu sự chi phối bởi các ngân hàng thương mại không được kiểm soát một cách hiệu quả với lượng nợ xấu khá lớn.

Thứ hai, đầu tư quá mức (gần 40% GDP) và hệ số ICOR 4,4 (có nghĩa là Việt Nam hiện cần 4,4 đơn vị đầu tư để tạo ra một đơn vị tăng trưởng) là rất cao so với các nước khác trong khu vực ở những giai đoạn phát triển tương đương như Việt Nam bây giờ (hệ số ICOR trung bình của các nước trong khu vực là khoảng 3).

Thứ ba, một lượng tiền lớn có nguồn gốc tham nhũng, rửa tiền, và đầu tư nước ngoài đang đổ vào thị trường bất động sản và chứng khoán, tạo nên bong bóng tài sản.

Thứ tư, thâm hụt thương mại tăng nhanh và tỷ giá dao động bất thường là những dấu hiệu của những rủi ro ngầm ẩn. Việt Nam cũng đang tích luỹ một lượng lớn nợ ngoại tệ không được phòng vệ.

Theo nhóm chuyên gia, tất cả những rủi ro trên chưa dẫn tới một cuộc khủng hoảng tài chính là nhờ Việt Nam vẫn chưa tự do hóa tài khoản vốn, dư nợ nước ngoài ngắn hạn của Việt Nam còn ở mức kiểm soát được, và lượng vốn đầu tư nước ngoài vẫn đang tiếp tục đổ vào giúp cân đối lại phần nào cán cân tài khoản vãng lai.

Tuy nhiên, trong số 10 triệu chứng dẫn đến khủng hoảng 1997, thì các chuyên gia thống kê được có 8 triệu chứng Việt Nam bị “dính”, gồm: thâm hụt tài khoản vãng lai, bong bóng tài sản, vay ngoại tệ không phòng vệ, hệ số ICOR cao, đầu tư công kém hiệu quả, kiểm soát bất cẩn đối với ngân hàng, nợ xấu cao, vay nợ chéo trong tập đoàn; và chỉ có 2 triệu chứng là không có, gồm: nợ nước ngoài ngắn hạn và tự do hóa tài khoản vốn.

Sứ mệnh khó khăn

Trong khi các chuyên gia đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam trong việc xây dựng một hệ thống tài chính hiện đại vào một thời điểm tương đối thuận lợi khi thị trường vốn quốc tế, đặc biệt ở châu Á đang có tính thanh khoản rất cao, thì cũng có không ít những góp ý được nêu ra.

Theo các chuyên gia, chênh lệch lãi suất của trái phiếu quốc tế đầu tiên của Việt Nam được phát hành cuối năm 2005 (được kỳ vọng sẽ là cơ sở để các tập đoàn nhà nước vay vốn trên thị trường quốc tế) luôn thấp hơn mức EMBI trung bình (chỉ số EMBI của JP Morgan đo lường khoảng chênh lệch giữa lãi suất trái phiếu của Chính phủ Mỹ và của các nền kinh tế mới nổi).

Điều này có nghĩa là các nước đang phát triển như Việt Nam có thể vay vốn từ thị trường quốc tế với mức lãi suất thấp, và đây thực sự là một cơ hội cho Việt Nam nếu việc tài trợ bằng vốn vay nước ngoài được thực hiện một cách cẩn trọng. Tuy nhiên, các chuyên gia khẳng định sẽ có một nguy cơ là Chính phủ và các công ty trong nước trở nên phụ thuộc quá nhiều vào các khoản vay nước ngoài.

Theo phân tích của nhóm chuyên gia, các doanh nghiệp Nhà nước đang sử dụng vốn một cách kém hiệu quả. Nếu tình trạng này tiếp diễn và các doanh nghiệp này lại được phép tiếp cận với thị trường vốn quốc tế thì một rủi ro thực tế là Việt Nam sẽ phải trả một cái giá khá đắt cho những khoản vay không mang lại mấy giá trị.

Bên cạnh đó, các chuyên gia cũng lưu ý rằng ngay cả trong giai đoạn thị trường thuận lợi thì Nhà nước vẫn phải thận trọng trong việc giữ nợ ở mức kiểm soát được để tránh những cú sốc chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai. Các chuyên gia cũng nhận xét cải cách khu vực ngân hàng ở Việt Nam đã có nhiều tiến bộ.

Song để phát triển bền vững thì Việt Nam cần có một ngân hàng trung ương thực thụ, có thẩm quyền và khả năng điều tiết, giám sát hệ thống ngân hàng,và điều hành chính sách tiền tệ. Điều này chỉ có thể trở thành hiện thực khi ngân hàng trung ương phải được độc lập trên các phương diện cơ bản, bao gồm độc lập về mặt tài chính, nhân sự, công cụ, và mục tiêu.

lucchungha
22-02-08, 08:27 PM
Chà, nếu như phải cải thiện hiệu quả hoạt động của dnnn thì một trong những cách hay là cổ phần hóa. Mà cổ phần hóa, tiến hành IPO trong giai đoạn này thì lại khó thu được nhiều tiền cho nhà nước, mà tiền đâu ra nữa? Nhức đầu quá.
Tui nhớ rằng năm vừa qua có bàn về vấn đề dự trữ ngoại tệ của VN chủ yếu là USD, thời điểm đó nguồn cung USD tại VN đã rất lớn nên tỷ giá giảm, đồng nghĩa dự trữ ngoại tệ của NHNN tính ra VND cũng giảm. Và có ý kiến cho rằng nên cơ cấu lại bằng EUR chẳng hạn, nhưng sau đó k còn ai bàn luận gì nữa. Nay, đồng USD càng giảm mạnh do khủng hoảng tại Mỹ, k những các dn xk đuối sức mà NH cũng đuối theo. Hàng ngày câu chuyện kd ngoại tệ cũng nóng bỏng k kém gì ttck. Nếu giữa năm 2007, NN nhanh chóng cơ cấu lại đồng ngoại tệ dự trữ thì có khá hơn k nhỉ?
Mà hình như mình có vẻ "bầy đàn" quá sức. Đầu năm 2007 ai ai cũng hồ hởi phấn khởi "vươn buồm ra biển lớn", VN thành "con rồng châu Á" ..., còn đầu 2008 thì nhìn đâu cũng sập sàn, lạm phát và khủng hoảng.
Cuối năm ngoái vé xe Vũng Tàu-TP Hồ Chí Minh là 40.000đ/1 vé, đầu năm tui đi học lại thì phải trả 50.000đ/1 vé, tăng 25%, thực sự ... khủng hoảng tới rùi.

KATANG
26-02-08, 02:21 PM
Liệu có giống với cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á năm 1997 bắt nguồn từ Thái Lan hay không? Đúng thế chúng ta đang cận kề ... tuy nhiên theo tôi thì chưa tới mức đáng sợ như vậy. Mặc dù NH Nhà nước đang áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ làm các NHTM thiếu tiền mặt nghiêm trọng, hơn nữa lại tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Đây là biện pháp để chống lạm phát nhưng trong hoàn cảnh hiện nay lãi suất đang tăng cao trên mức bình thường, NHTM nhỏ cũng đẩy lãi suất lên rất cao ... sẽ ngã đau nếu chạy theo chính sách của "đại gia". Một mức tăng trưởng định trước mà kiềm chế lạm phát là không hợp lý. Thực tế thị trường tiền tệ của chúng ta chưa mở cửa hoàn toàn như Thái Lan, nên theo tôi chưa đến mức khủng hoảng trong khi chờ Chính Phủ điều chỉnh.

locnguyendragon
11-06-08, 08:21 AM
tài liệu " nguyên nhân và giải pháp về lạm phát ah

locnguyendragon
11-06-08, 08:25 AM
mình chia sẽ một tài liệu cũng có ích về lạm phát.
Các abn5 đọc tạm nhé, mình sẽ up tiêp :vuinhi:

tamikura
17-06-08, 02:50 PM
Tình hình kinh tế Việt Nam hiện nay có nhiều nhận định, lạc quan có, bi quan thì rất nhiều.:vuinhi: Mình gửi mọi người đọc tham khảo 1 nhận định lạc quan của TS.Lê Hồng Giang - Chuyên gia tài chính tiền tệ (Úc).

Liệu đồng Việt Nam có bị tấn công?


http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=267978

LTS: Trước những thông tin từ nước ngoài cho rằng đồng Việt Nam (VNĐ) có thể bị phá giá, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giữa tuần qua đã nhấn mạnh: “Việt Nam không có kế hoạch phá giá đồng nội tệ” và đưa ra những lập luận chứng tỏ điều này. Vậy khả năng VNĐ phải chịu một cuộc tấn công từ bên ngoài thì sao?

Từ Úc, TS Lê Hồng Giang, một chuyên gia tài chính - tiền tệ đã phân tích vấn đề trên.
Lần đầu tiên từ khi Việt Nam tiến hành cải cách, năm nay nền kinh tế phải đối mặt với một nguy cơ khủng hoảng lớn. Các chỉ số kinh tế trong nước liên tục xấu đi và dường như Chính phủ chưa có đủ kinh nghiệm để đương đầu với tình hình này. Nền kinh tế dù có tốc độ tăng trưởng cao trong hơn năm năm gần đây, vẫn còn mang nặng dấu ấn “kế hoạch hóa” và thiếu sự uyển chuyển cần thiết để tự điều chỉnh khi môi trường thay đổi. Một trong những điểm yếu đáng quan tâm của nền kinh tế nước ta là cơ chế về tỷ giá hối đoái.

Khi nào có nguy cơ tấn công tiền tệ?

Với cơ chế tỷ giá danh nghĩa gần như cố định với đồng USD, tỷ giá thực của đồng Việt Nam (VNĐ) sẽ có biến động rất lớn nếu tình hình lạm phát tương đối giữa Việt Nam và Mỹ thay đổi. Khi tỷ giá thực của VNĐ tăng lên, khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam sẽ giảm xuống nhanh chóng và cán cân thương mại sẽ xấu đi. Khi thâm hụt thương mại quá lớn, các dòng vốn nước ngoài chảy vào sẽ không đủ để bù đắp khoản thiếu hụt ngoại tệ và khi đó Ngân hàng Nhà nước sẽ phải đối mặt với hai lựa chọn: hoặc bán ngoại tệ dự trữ ra thị trường để duy trì tỷ giá, hoặc phá giá VNĐ.

Thường các nước chọn phương án đầu, đến khi dự trữ ngoại tệ cạn kiệt thì thực hiện phương án thứ hai. Nếu chỉ vì cán cân thương mại bị thâm hụt quá lớn mà phải phá giá thì tình hình không quá tồi tệ. Lý do là hoạt động xuất nhập khẩu thường tương đối ổn định nên các ngân hàng trung ương có thể dự báo được tình hình từ rất sớm để đưa ra cách thức đối phó. Mặt khác, ngay cả khi đồng nội tệ bị phá giá thì ảnh hưởng trực tiếp và tức thời đối với nền kinh tế cũng không quá lớn, thậm chí nếu việc phá giá là hợp lý và đúng thời điểm, nó còn giúp phân bổ lại nguồn lực xã hội hợp lý hơn và có tác động tích cực về lâu dài.

Phá giá nội tệ chỉ trở nên tồi tệ khi đi cùng với một cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán, đôi khi còn được gọi là khủng hoảng tiền tệ. Điều không may là đa số các ngân hàng trung ương phải phá giá nội tệ gần đây, nhất là ở các nước đang phát triển, đều đi kèm với khủng hoảng cán cân thanh toán.

Theo phân loại của giới học giả và Quỹ Tiền tệ quốc tế, khủng hoảng cán cân thanh toán ở các nước đang phát triển có hai loại: khủng hoảng thế hệ I và khủng hoảng thế hệ II (hiện nay đã có mô hình lý thuyết về khủng hoảng thế hệ III). Khủng hoảng thế hệ I, điển hình như cuộc khủng hoảng ở các nước Mỹ Latin trong thập niên 1980, có nguyên nhân từ nợ nước ngoài quá lớn (nợ nước ngoài khác với đầu tư trực tiếp từ nước ngoài) do chính phủ đã để ngân sách thâm hụt trong một thời gian quá dài. Khi đồng nội tệ có nguy cơ bị phá giá, các chủ nợ không tiếp tục cho vay nữa, đồng loạt rút tiền, gây ra sự tháo chạy của dòng vốn nước ngoài.

Điều này ảnh hưởng ngay tới các hoạt động kinh tế và hệ thống ngân hàng, hậu quả là gây ra khủng hoảng kinh tế. Khủng hoảng loại II, điển hình như ở Thái Lan năm 1997, vừa có nguyên nhân do tiền đầu tư “nóng” từ nước ngoài chảy vào ồ ạt làm cho cán cân thương mại bị thâm hụt nghiêm trọng, vừa do những cuộc tấn công vào đồng nội tệ của giới đầu cơ tiền tệ quốc tế mà chủ yếu là các quỹ đầu tư quốc tế. Hậu quả cũng là sự tháo chạy của dòng vốn nước ngoài và nền kinh tế bị suy sụp.

Trong tình hình hiện nay của Việt Nam, liệu một cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán (khủng hoảng tiền tệ) có xảy ra không? Liệu một cuộc tấn công vào nội tệ có phải là ngòi nổ của cuộc khủng hoảng này không? Một số nhà phân tích nước ngoài cho rằng khả năng khủng hoảng tiền tệ của Việt Nam là khá cao, nhưng người viết cho rằng và hy vọng rằng Chính phủ sẽ có những biện pháp khéo léo và hợp lý để ngăn chặn điều đó. Tuy vậy, câu hỏi đặt ra là với tình hình như hiện nay, liệu có một cuộc tấn công nào từ phía các nhà đầu cơ vào VNĐ hay không?

Cơ chế của một cuộc tấn công tiền tệ

Về cơ bản, một cuộc tấn công tiền tệ diễn ra như sau. Giới đầu cơ sau khi phân tích tình hình kinh tế vĩ mô của một nước dự đoán rằng không sớm thì muộn nước này sẽ phải phá giá đồng nội tệ. Để có thể trục lợi từ việc phá giá đồng nội tệ, họ sẽ tiến hành ký những hợp đồng mua USD (bán nội tệ) có thời hạn với các ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước. Chênh lệch giữa giá USD vào thời điểm giao dịch so với giá quy định trong hợp đồng mua bán có thời hạn bằng đúng với chênh lệch lãi suất giữa đồng nội tệ và USD vào thời điểm hợp đồng mua bán có thời hạn được ký.

Việc ký hợp đồng như thế tương đương với việc bán khống đồng nội tệ, làm tăng thêm áp lực phá giá đồng nội tệ. Mặc dù hợp đồng mua bán có thời hạn chỉ yêu cầu trao đổi tiền tệ trong tương lai, nhưng một khi lượng đồng nội tệ được bán quá lớn, các NHTM sẽ buộc phải phòng ngừa rủi ro các nghĩa vụ bán USD trong tương lai của mình bằng cách bán đồng nội tệ và mua vào USD. Ngoài việc gây áp lực phá giá lên đồng nội tệ, các quỹ đầu cơ sử dụng hợp đồng mua bán có thời hạn như là công cụ để khuếch đại sức mạnh tài chính của mình, nghĩa là chỉ với vài chục triệu USD tiền vốn, họ có thể làm cầu USD trên thị trường tăng lên vài trăm triệu, thậm chỉ vài tỉ.

Thông thường các quỹ đầu cơ có thể khuếch đại từ 10 đến 100 lần vốn của họ tùy vào từng thị trường. Nếu áp lực phá giá chưa đủ lớn, họ lại tiếp tục mua vào USD, đẩy cầu USD trên thị trường tiền tệ trao ngay cao lên nữa cho đến khi ngân hàng trung ương buộc phải phá giá. Lúc đó, các quỹ đầu cơ chỉ việc thanh lý các hợp đồng còn hiệu lực và kiếm được một khoản lợi nhuận bằng chênh lệch tỷ giá sau khi đồng nội tệ đã bị phá giá với tỷ giá đã đặt mua ký được trước đây.

Điểm mấu chốt để cơ chế tấn công này có thể thành công là các hợp đồng mua bán có thời hạn mà các quỹ đầu cơ ký được phải có thời hạn dài hơn khoảng thời gian mà ngân hàng trung ương có thể cầm cự được trước khi phá giá. Nếu các hợp đồng hết hạn trước đó, các quỹ đầu cơ sẽ buộc phải thực thi việc mua USD với tỷ giá chưa bị phá và ký tiếp hợp đồng khác để quay vòng vốn.

Tuy nhiên điều này rất khó khăn vì các quỹ với khả năng khuếch đại rất lớn sẽ phải thực hiện việc trao đổi ngoại tệ có giá trị lớn hơn nhiều lần vốn của họ. Nếu họ vay nội tệ từ các NHTM bản địa để thực hiện nghĩa vụ này thì phải chịu lãi suất cao hơn nhiều so với lãi suất nhận được từ khoản USD thu được, nên họ sẽ phải chịu một khoản lỗ lớn do chênh lệch lãi suất cho đến khi cuộc tấn công thành công. Còn nếu đi vay USD từ bên ngoài rồi đổi ra nội tệ thì lượng USD đó sẽ làm tăng thêm cung ngoại tệ và làm giảm áp lực lên đồng nội tệ, giảm đi sức mạnh của cuộc tấn công.

Trong cuộc khủng hoảng năm 1997, Ngân hàng Trung ương Thái Lan đã nâng lãi suất lên rất cao khi một số hợp đồng mua bán có thời hạn đáo hạn, nhằm hạn chế khả năng các quỹ đầu cơ vay đồng baht để quay vòng các hợp đồng. Tuy nhiên Ngân hàng Trung ương Thái Lan đã mất cảnh giác trong ba tháng đầu năm 1997, để các quỹ đầu cơ tích trữ được một lượng lớn hợp đồng mua bán có thời hạn (xấp xỉ 15 tỉ USD) có thời hạn rất dài (12 tháng). Bởi vậy, khi lãi suất đã được đẩy lên rất cao để chống lại việc quay vòng hợp đồng, nền kinh tế Thái Lan đã không chịu nổi chi phí cao trong thời gian dài như vậy nên đã bắt đầu suy sụp vào đầu tháng 7/1997. Đến lúc đó, không còn lựa chọn nào khác ngoài phương án phá giá đồng baht - tuyên bố thả nổi tỷ giá để cứu nền kinh tế.

VNĐ khó bị tấn công

Điều đầu tiên cần xác định là sự hiện diện của giới đầu cơ đã đông chưa và họ có ý định tấn công VNĐ không. Sẽ rất khó xác định được điều này vì các quỹ đầu cơ không bao giờ để lộ kế hoạch kinh doanh của mình. Tuy nhiên, dường như một số quỹ đầu cơ lớn chưa quan tâm đến Việt Nam. Để tiến hành đầu cơ vào một thị trường, phải quan tâm đến mức độ thanh khoản của thị trường. Hiện tại khả năng thanh toán của VNĐ giữa các nhà buôn tiền tệ lớn vẫn ổn định nên khả năng VNĐ bị tấn công chưa cao.

Điều kiện thứ hai là cơ chế quản lý ngoại hối của Việt Nam, hay mức độ mở của tài khoản vốn, đã đủ để các quỹ đầu cơ bên ngoài mua được các hợp đồng có thời hạn với VNĐ chưa. Có lẽ là chưa. Còn nếu họ ký được hợp đồng có thời hạn với một NHTM trong nước (kể cả NHTM ở một nước nào đó có mua bán VNĐ) thì để đồng USD có thể rời khỏi Việt Nam, về nguyên tắc phải được phép của Ngân hàng Nhà nước. Hiện tại, chế độ quản lý ngoại hối của Việt Nam chỉ cho phép dòng vốn có xuất xứ từ hoạt động nhập khẩu, tiêu dùng cá nhân và chuyển lợi tức từ liên doanh đầu tư hay đầu tư mới được tự do rời Việt Nam. Tuy các NHTM và các doanh nghiệp vẫn có cách lách luật để chuyển ngoại tệ ra ngoài, nhưng đó không thể là kênh chính để các quỹ đầu cơ dựa vào mà tấn công VNĐ.

Liệu giới đầu cơ tiền tệ có thể tấn công ngay từ trong nước, hoặc có một cuộc tấn công do người Việt Nam gây ra không? Điều này phụ thuộc vào khả năng có được các hợp đồng mua bán tiền tệ có thời hạn từ các NHTM không. Mặc dù đã có một số NHTM bán các hợp đồng mua bán tiền tệ có thời hạn cho các doanh nghiệp nhưng chủ yếu phục vụ mục đích quản lý rủi ro, nghĩa là phải liên quan đến một hoạt động kinh tế có thật (như nhập khẩu). Hiện tại, mặc dù có sự khan hiếm ngoại tệ, vẫn chưa có một đột biến nào lớn trên thị trường ngoại tệ giữa các NHTM, tức là chưa có dấu hiệu của một đợt phát hành hợp đồng mua bán có thời hạn lớn. Ngoài ra, với sự quản lý chặt chẽ của Ngân hàng Nhà nước đối với các NHTM, khả năng các doanh nghiệp hoặc các quỹ đầu cơ trong nước dồn dập ký hợp đồng có thời hạn để đầu cơ mà không bị phát hiện là rất nhỏ.

Điểm cuối cùng là mức độ chênh lệch lãi suất giữa VNĐ và USD. Hiện tại, lãi suất cho vay của VNĐ xấp xỉ 18%/năm, trong khi lãi suất huy động USD trong nước khoảng 7%/năm và còn thấp hơn nữa nếu gửi ở nước ngoài. Do vậy, tỷ giá tiền tệ giao sau và tỷ giá hiện tại chênh lệch nhau khoảng 11%. Điều đó có nghĩa là nếu ký được hợp đồng có thời hạn vào thời điểm này thì chỉ có thể có lời nếu VNĐ bị phá giá quá 11% trước khi hợp đồng bị đáo hạn. Tất nhiên khả năng này có thể xảy ra, nhưng khoảng cách 11% sẽ làm giảm đáng kể động cơ đầu cơ của họ.

Tóm lại, khả năng tấn công tiền tệ nhằm vào VNĐ là rất nhỏ. Nếu một cuộc khủng hoảng tiền tệ xảy ra, nó sẽ mang nhiều tính chất của một cuộc khủng hoảng thế hệ I, nghĩa là xuất phát từ sự rút vốn hàng loạt của các nhà đầu tư nước ngoài, cả trực tiếp và gián tiếp.


TS LÊ HỒNG GIANG
Theo Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần

Duy Cong Duc Luc
17-06-08, 05:10 PM
Mấy báo cáo đọc lòi con mắt:hoamat:

HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VỚI VIỆC KIỀM CHẾ LẠM PHÁT VÀ ỔN ĐỊNH VĨ MÔ NỀN KINH TẾ
Nguyễn Văn Giàu
TS, Ủy viên Trung ương Đảng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
(Cập nhật: 14/6/2008)


Kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là vấn đề quan tâm hàng đầu và khó giải quyết nhất đối với tất cả các nền kinh tế. Ở nước ta giải bài toán chống lạm phát và tăng trưởng kinh tế đang được các cấp, các ngành quan tâm để đạt được kết quả tối ưu mà không gây hậu quả đến chất lượng tăng trưởng kinh tế.
Ngày 11-1-2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đánh dấu thời kỳ hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới. Đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam, hội nhập quốc tế đã mở ra nhiều cơ hội cho sự phát triển theo hướng cạnh tranh hơn, minh bạch hơn, song cũng đặt ra những thách thức cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia nhằm ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Hơn một năm qua, tình hình quốc tế có những diễn biến hết sức phức tạp. Trên thế giới, giá dầu thô, giá lương thực, giá vàng, giá nguyên vật liệu tăng đột biến. Cuộc khủng hoảng nhà đất ở Mỹ kéo theo sự suy giảm của nền kinh tế hàng đầu thế giới và tác động tiêu cực đến kinh tế toàn cầu. Do tác động của tình hình kinh tế thế giới, nước ta cũng đối mặt với nhiều khó khăn: Nhập siêu ở mức cao; luồng vốn vào tăng mạnh, tuy mang lại cơ hội để Việt Nam tăng dự trữ quốc tế, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nhưng đồng thời cũng gây sức ép lớn đối với điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá, nhất là trong điều kiện khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế Việt Nam còn hạn chế. Đặc biệt, chỉ số giá tiêu dùng tăng cao đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân. Bên cạnh đó, thiên tai, dịch bệnh ở nhiều vùng gây nhiều thiệt hại cho sản xuất và đời sống.
Nền kinh tế nước ta chưa bao giờ chịu sự tác động mạnh và sâu rộng bởi những biến động thất thường của thị trường thế giới như hiện nay. Giá dầu có lúc đã lên đến trên dưới 135 USD/thùng, tình trạng lạm phát lan tỏa rộng khắp hành tinh, giá lương thực, thực phẩm tăng chóng mặt...
Trước những biến động của kinh tế trong và ngoài nước, đặc biệt là tình hình lạm phát có xu hướng tăng cao, thực hiện sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã chủ động điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát mức tăng tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng tín dụng, góp phần giảm áp lực tăng giá. Năm 2007, nhiều giải pháp đã được triển khai như: Duy trì ổn định các mức lãi suất cơ bản nhằm ổn định mặt bằng lãi suất trong nước; Tăng số phiên và khối lượng giao dịch trên thị trường mở, trong đó chủ yếu là chào bán tín phiếu ngân hàng để rút tiền từ lưu thông về; Điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm hạn chế gia tăng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán; Nới rộng biên độ ấn định tỷ giá mua, bán đồng USD của các tổ chức tín dụng so với tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng (từ ± 0,25% lên ± 0,5% và ± 0,75%); Ban hành Chỉ thị yêu cầu các tổ chức tín dụng thực hiện đồng bộ các giải pháp kiểm soát tín dụng, khống chế dư nợ cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán ở mức dưới 3%, đồng thời, tăng cường thanh tra, giám sát việc chấp hành của các tổ chức tín dụng ...
Tuy chưa đạt được mục tiêu kiềm chế lạm phát thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhưng điều hành tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước trong năm 2007 đã bám sát và tuân thủ nghiêm túc sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế ở mức cao (8,48%).
Những tháng đầu năm 2008, tình hình kinh tế thế giới tiếp tục có những biến động rất phức tạp. Giá dầu thô, giá vàng tăng mạnh và liên tiếp đạt các kỷ lục mới; giá lương thực, thực phẩm cũng tăng vọt chỉ trong vài tháng đầu năm 2008 và thiết lập một mặt bằng giá mới cao hơn nhiều so với cùng kỳ năm 2007. Trước những biến động bất thường của giá cả, Chính phủ đã chỉ đạo các cấp, các ngành triển khai các giải pháp quyết liệt nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm tăng trưởng bền vững (các văn bản số 75/TTg-KTTH ngày 15-01-2008, số 319/TTg-KTTH ngày 3-3-2008, số 418/TTg-KTTH ngày 31-3-2008, Thông báo số 91/TB-VPCP ngày 07-4-2008, Nghị quyết số 10/2008/NQ-CP ngày 17-4-2008 về các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững).
Bám sát sự chỉ đạo của Chính phủ, trong những tháng đầu năm 2008, Ngân hàng Nhà nước đã tập trung triển khai các giải pháp quyết liệt nhằm tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ thắt chặt:
- Nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thêm 1% (ngoại trừ các tổ chức tín dụng hoạt động trên địa bàn nông thôn).
- Phát hành 20.300 tỉ đồng tín phiếu Ngân hàng Nhà nước bắt buộc để thu hút tiền về áp dụng đối với tổ chức tín dụng, trừ các tổ chức tín dụng hoạt động trên địa bàn nông thôn và tổ chức tín dụng có nguồn vốn huy động dưới 1.000 tỉ đồng.
- Tăng các mức lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước (lãi suất cơ bản từ 8,25% lên 8,75%/năm, lãi suất tái cấp vốn từ 6,5% lên 7,5%/năm, lãi suất chiết khấu từ 4,5% lên 6,0%/năm).
- Thực hiện các biện pháp kiểm soát tăng trưởng tín dụng không quá 30%/năm. Kiểm soát chặt chẽ các lĩnh vực cho vay có rủi ro cao như kinh doanh chứng khoán, bất động sản, trong đó quy định tổng dư nợ cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư, kinh doanh chứng khoán không được vượt qua 20% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng (Quyết định 03/2008/QĐ-NHNN ngày 1-2-2008).
- Mở rộng biên độ mua, bán ngoại tệ của các ngân hàng thương mại so với tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng (từ ± 0,75% lên ± 1%) để tỷ giá theo sát hơn với cung cầu ngoại tệ; mua ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối nhà nước trên cơ sở lượng tiền rút từ lưu thông về.
- Tiến hành thanh tra, giám sát hoạt động cho vay kinh doanh của các ngân hàng thương mại và những biến động trên thị trường tiền tệ để xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh.
Theo số liệu báo cáo sơ bộ của TCTK, chỉ số giá tiêu dùng tháng 5-2008 đã tăng 3,91% so với tháng 4. Tính chung 5 tháng đầu năm 2008, chỉ số giá tiêu dùng đã lên 15,96% (cùng kỳ năm 2007, con số đó là 4,32%).
Việc triển khai các giải pháp điều hành tiền tệ trên đây đã có tác động tích cực kiềm chế tốc độ tăng giá, góp phần ổn định môi trường vĩ mô. Kết quả 4 tháng đầu năm 2008, tổng phương tiện thanh toán tăng 2,52% so với cuối năm 2007, thấp hơn nhiều so với mức tăng 14,62% của cùng kỳ năm trước; tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng đã giảm dần, từ 3,56% trong tháng 2-2008 xuống còn 2,99% trong tháng 3-2008 và 2,2% trong tháng 4-2008.
Tuy nhiên, tình hình kinh tế - xã hội nước ta trong những tháng đầu năm 2008 vẫn còn nhiều khó khăn: tốc độ tăng trưởng kinh tế quý I/2008 đạt 7,4%, thấp hơn cùng kỳ năm trước (7,8%); mặc dù xuất khẩu tăng, nhưng nhập khẩu tăng mạnh, nhập siêu 4 tháng đầu năm ở mức kỷ lục. Chỉ số giá tiêu dùng tuy đã có xu hướng giảm trong tháng 3 và tháng 4, nhưng tính chung 4 tháng đầu năm vẫn ở mức rất cao. Lạm phát và nhập siêu tăng cao cùng với những biến động bất thường của thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản đã ảnh hưởng đến sự ổn định của kinh tế vĩ mô, tác động tiêu cực đến sản xuất và môi trường đầu tư, thu nhập và đời sống của nhân dân, nhất là người có thu nhập thấp.
Trước tình hình đó, Chính phủ đã xác định nhiệm vụ trọng tâm cấp bách trong những tháng tiếp theo của năm 2008 là phấn đấu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững. Chính phủ cũng xác định 4 nhóm giải pháp chủ yếu cần tập trung sức chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt trong thời gian tới, đó là: (1) Thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ chặt chẽ, hiệu quả; (2) Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để đẩy mạnh phát triển sản xuất, dịch vụ và thu hút vốn đầu tư; (3) Đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu, bảo đảm cân đối cung cầu hàng hóa, nhất là hàng hóa thiết yếu cho sản xuất và đời sống; tăng cường quản lý thị trường, giá cả; chống đầu cơ buôn lậu; (4) Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội.

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, để góp phần kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô trong những tháng còn lại của năm 2008, ngành ngân hàng cần tiếp tục thực hiện các giải pháp sau:

Thứ nhất: Điều hành linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường nhằm kiềm chế tốc độ tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán năm 2008 theo hướng không vượt quá 30% so với cuối năm 2007. áp dụng các biện pháp thích hợp để định hướng và ổn định lãi suất, từng bước hướng tới thực hiện chính sách lãi suất thực dương.
Theo định hướng trên, thực hiện ý kiến của ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp cuối tháng 4-2008 và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành quy định mới về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam (Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16-5-2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 19-5-2008). Theo đó, các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh (lãi suất huy động vốn, lãi suất cho vay) bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo nguyên tắc lãi suất kinh doanh không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố áp dụng trong từng thời kỳ. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cũng có các quyết định điều chỉnh lãi suất cơ bản lên 12%/năm, lãi suất chiết khấu lên 11%/năm và lãi suất tái cấp vốn lên 13%/năm.

Thứ hai: Tăng cường giám sát thị trường tiền tệ, thiết lập hệ thống thông tin nhanh, có độ tin cậy cao để kịp thời đánh giá đúng diễn biến thị trường và có biện pháp can thiệp phù hợp.

Thứ ba: Phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng, trình Chính phủ cơ chế kiểm soát, hấp thụ hiệu quả luồng vốn đầu tư gián tiếp và vấn đề các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài mua cổ phiếu bằng ngoại tệ.
Thứ tư: Ban hành chế tài xử lý các trường hợp cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức tín dụng. Nghiên cứu bổ sung, chỉnh sửa các quy định liên quan đến các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng; phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng...
Trong khi kinh tế đang tăng trưởng chậm lại, lạm phát gia tăng, Chính phủ đặt mục tiêu số một là kiềm chế lạm phát và áp dụng các biện pháp thắt chặt tiền tệ.

Thứ năm: Tăng cường công tác thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước và chấn chỉnh toàn diện hoạt động quản trị, điều hành, kiểm soát, kiểm toán nội bộ của các ngân hàng thương mại; tăng cường tần suất thanh tra, kết hợp với giám sát từ xa để giám sát chặt chẽ thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng; tiếp tục kiểm soát chặt chẽ hoạt động cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán và bất động sản.

Thứ sáu: Các tổ chức tín dụng điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, cơ cấu tín dụng phù hợp với định hướng của Chính phủ và của ngành ngân hàng trong từng thời kỳ. Chấp hành nghiêm túc các quy định về bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng.

Thứ bảy: Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về hoạt động tiền tệ, ngân hàng và công tác quản lý, chỉ đạo điều hành của Ngân hàng Nhà nước, bảo đảm thông tin kịp thời, chính xác.
Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của năm 2008 còn rất nặng nề. Trong khi đó, theo dự báo, tình hình kinh tế, giá cả thế giới sẽ tiếp tục có những diễn biến phức tạp và tác động không nhỏ đến kinh tế nước ta, gây khó khăn cho việc kiểm soát lạm phát và ổn định các cân đối vĩ mô của nền kinh tế. Tuy nhiên, thời cơ và tiềm năng phát triển của nước ta còn rất lớn. Với những thành tựu và bài học kinh nghiệm có được trong hoạt động ngân hàng những năm qua, dưới sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, ngành Ngân hàng sẽ tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, cùng với các ngành, các cấp thực hiện kiềm chế có hiệu quả lạm phát, góp phần ổn định môi trường vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững./

Duy Cong Duc Luc
17-06-08, 05:27 PM
http://business.timesonline.co.uk/tol/business/economics/article4143529.ece

Duy Cong Duc Luc
17-06-08, 05:40 PM
Is Vietnam facing a currency crisis?
By Moody’s Economy.com
Email us your feedback at fd@bizedge.com (http://www.theedgedaily.com/cms/content.jsp?id=com.tms.cms.article.Article_802d763 4-cb73c03a-10837170-985b5aa1#)


Investors have soured on Vietnam in recent months, sending the country’s benchmark stock index down nearly 60% and putting its economy increasingly at risk of foreign capital flight. Meanwhile, Vietnam’s year-to-date trade deficit in May — a whopping US$14.4 billion (RM47.52 billion) — exceeds the US$12.4 billion shortfall for all of 2007.

Is Vietnam headed for a currency and balance of payments crisis? A number of emerging market analysts have sounded the alarm, but currency speculators may get burned if they are betting on the kind of rout that brought down the Thai baht in 1997.
Though Vietnam’s black-market currency exchange rate has reportedly jumped to a record high of more than 18,000 dong (RM3.55) per US dollar — the official rate last week was 16,268 dong — Vietnam can still avoid a currency crisis if the government restores macroeconomic credibility by acting quickly and decisively.
http://www.theedgedaily.com/cms/storage/images/com.tms.cms.image.Image_80ebb39e-cb73c03a-10837170-4c3f7ace/1/Vietnam_1.jpgIt has done so before, from 1989 to 1992, when it launched bold and comprehensive reforms that squelched hyperinflation, drastically changing inflation expectations and increasing confidence in the domestic currency.
Granted, there is much to worry about: May CPI inflation soared to more than 25% year-on-year (y-o-y), driven largely by the sharp spike in food prices. A sense of déja vu and fears of skyrocketing inflation are causing individuals and merchants to hoard rice, cement and steel—a return to old habits formed back when annual inflation exceeded 60%.
This behaviour not only exacerbates inflationary pressure, creating intermittent shortages of key commodities, but it also has prompted a stampede into gold, the inflation hedge of choice. For this reason, the price of gold has tended to be a reliable proxy for the public’s assessment of the government’s ability to stabilise the economy.
http://www.theedgedaily.com/cms/storage/images/com.tms.cms.image.Image_80ec295b-cb73c03a-10837170-91386c15/1/Vietnam_2.jpgGold’s price in recent months underscores their stunning lack of confidence. Moreover, gold imports have risen sharply, aggravating the trade deficit. According to the World Bank, during the first four months of this year, Vietnam spent about US$1.2 billion to import 43 tons of gold.
The public’s mistrust is not surprising, given recent policy missteps. Even before putting in place the regulatory infrastructure needed for sound, stable development of the domestic financial market, the government accelerated the process of external liberalisation and failed to act quickly to prevent the economy from overheating. Instead, credit growth has shot up, and favoured state enterprises have been allowed to go on an investment spending spree. Consequently, the twin deficits in the balance of trade and fiscal budget have spun almost out of control. This year, the current account deficit as a share of GDP may rise to 7.8%, while the IMF projects Vietnam’s budget deficit to decline slightly to 6.6% of GDP from an estimated 6.9% in 2007.
The origins of Vietnam’s woes can be blamed in part on extreme swings in investor sentiment and the inexperience of Vietnamese policymakers who seem to not appreciate the dangers of a premature opening of the capital account. In 2006 and 2007, Vietnam was among Asia’s fastest-growing economies, and its stock market boom quickly acquired bubble dimensions. At its peak in March 2007, the combined capitalisation of the Ho Chi Minh City and Hanoi stock exchanges rose to nearly US$29 billion — more than 40% of GDP — from less than US$1 billion in 2005.
http://www.theedgedaily.com/cms/storage/images/com.tms.cms.image.Image_80ecbd2e-cb73c03a-10837170-e0177c45/1/Vietnam_3.jpgInvestors were extraordinarily bullish in anticipation of Vietnam’s World Trade Organisation accession. The country was thought to be a prime investment destination and attracted huge flows of foreign capital. According to the World Bank, foreign direct investment inflows rose to an estimated US$6.7 billion, a little more than private remittances. To prevent this large inflow of foreign capital from driving up the value of the domestic currency, which would have undermined the country’s export competitiveness, the State Bank of Vietnam bought more than US$10 billion in 2007.
Unfortunately, the SBV’s effort to sterilise its interventions in the foreign exchange market were not successful, and the accumulation of reserves expanded the monetary base. The outcome was runaway credit growth, an overheating economy, surging inflation, and rapid deterioration in Vietnam’s external accounts.
An important indicator of the overheating has been the astonishingly sharp acceleration in import growth, especially relative to export growth. The latter has been curbed by the US downturn and subsequent slowdown in other developed economies. Import growth soared soon after Vietnam formally joined the World Trade Organisation in January 2007 and sought to contain inflationary pressures by accelerating the pace of WTO-mandated tariff reductions. Although this move was praised by the IMF, it not only failed to produce the desired results, it also contributed to a ballooning trade deficit.
The primary driver of import demand has been domestic enterprises, many of them state-owned. To analyse the sources of growth, Vietnam’s statistics office disaggregates import data by type of ownership. A distinction is made between imports by the FDI sector — enterprises that receive foreign direct investment and account for nearly 44% of industrial output and more than 50% of total exports — and imports by the domestic sector. The latest data show a sharp reversal in import share, with the domestic sector accounting for more than 70% of total imports in recent months.
http://www.theedgedaily.com/cms/storage/images/com.tms.cms.image.Image_80ed5c7c-cb73c03a-10837170-279fddb8/1/Vietnam_4.jpgImport costs have soared because of purchases of commercial aircraft and oil refinery equipment, as well as because of the sharp growth in imports of steel, machinery and equipment, petroleum, electronics, computers, and vehicles. During the first four months of this year, imports of iron and steel jumped by 153%, fertilizer by 165%, and automobiles by a whopping 333%.
To cool down the overheating economy, the government recently ruled that state-owned enterprises must obtain approval before investing in the financial and property markets. This is a step in the right direction to control overinvestment, and hence, the fast-growing trade deficit. Additional administrative measures may be needed to impose fiscal discipline. The central bank also should address the problem of negative real interest rates, which creates a strong incentive for domestic firms to borrow.
During the early 1990s, the Vietnamese authorities were able to bring down inflation and strengthen confidence in the currency by raising nominal interest rates sufficiently to ensure positive real rates of interest. It should do so again, quickly and decisively. In this regard, the SBV’s recent decision to raise the base rate to 14% from 12% is a positive step, although it is probably still not enough to restore faith in the currency.
A bitter lesson
Concerns are mounting about a currency crisis in Vietnam in the next 12 months. Yet the government should not have responded to these concerns by declaring that it has sufficient foreign reserves to defend the dong.
The bitter lessons of the Thais and Indonesians in 1997 are very clear: Even US$22 billion can be used up very quickly when the currency is under heavy pressure from determined and well-financed speculators. The only way to regain credibility is by employing serious tools to attack the roots of the problem, which are an overheating economy and excessive inflation.
Because the dong has been unofficially roughly pegged to the declining US dollar, Vietnam’s nominal effective exchange rate (NEER) has been declining, and the export growth rate has thus far risen appropriately. However, Vietnam’s inflation rate far exceeds that of its main trading partners, causing the real effective exchange rate (REER) to climb sharply, and, related to this, import growth has gone through the roof. The sharp divergence between the NEER and REER shows that it is the inflation rate that is hurting competitiveness, not the nominal exchange rate. The government should focus on attacking inflation by raising interest rates, a strategic move that would also blunt speculative pressure against the currency.
The central bank recently announced that the trading band of the dong will be widened and lowered the official exchange rate by 1.96% against the US dollar. Although greater exchange rate flexibility over the medium term may benefit the development of Vietnamese financial markets, it must be administered carefully during this difficult period.
The dong is set to weaken further in the near term, and a wider trading band would allow the currency to depreciate at a faster pace. This is a risky move, for it is likely to worsen inflationary pressures and lower confidence in the currency, setting off a self-reinforcing vicious cycle. The exchange rate depreciation could overshoot and cause greater harm to the economy. To prevent a currency and balance of payments crisis, it is necessary that the government take a tough tightening stance. This could dampen growth in the near term, but the benefits outweigh the downside, as it would take an extended period for an economy to recover from a major crisis.



http://www.theedgedaily.com/cms/content.jsp?id=com.tms.cms.article.Article_802d763 4-cb73c03a-10837170-985b5aa1

khanhbmt
17-06-08, 06:10 PM
Thèng Moody này đang bị SEC điều tra về các hoạt động đánh giá xếp hạng của nó là có vấn đề :vuinhi:

Duy Cong Duc Luc
17-06-08, 07:26 PM
Thèng Moody này đang bị SEC điều tra về các hoạt động đánh giá xếp hạng của nó là có vấn đề :vuinhi:
Đọc và nhận định thôi. Chứ 1 số bài phân tích nước ngoài (mình không cần nói tên cũng biết rồi), cũng đầu tư vào Việt Nam nhưng cuối cùng báo cáo lỗ nặng đấy thôi. veoma:tutu: